Mùa mưa về cũng là mùa của những con sùng tre hóa kiếp thành bướm. Tôi lại nhớ đến món ơm pờ rèng của người Pa Cô, ở vùng cao A Lưới (tỉnh Thừa Thiên-Huế). Món ăn đã khiến tôi rùng mình khi thấy nhưng ngây ngất khi ăn.
Đến mùa đông, mỗi lần lên rẫy, người Pa Cô lại đi tìm sùng tre về chế biến món ơm pờ rèng
Ơm pờ rèng
Người Pa Cô kể lại rằng, ngày xưa, có đôi nam nữ người Pa Cô yêu nhau, nhưng họ bị gia đình ngăn cấm vì sợ cận huyết thống. Đôi nam nữ đành bỏ bản làng và trốn vào rừng sâu nguyện thề trọn kiếp bên nhau. Rừng thiêng nước độc, đôi trai gái chỉ biết lấy cây lồ ô làm bạn, cây cỏ làm thức ăn qua ngày. Một hôm, khi đôi trai gái đang ngồi bên lũy tre lồ ô ven suối, một cụ già đi ngang qua, thương tình cụ đã chỉ cách bắt con sùng tre, sống trong thân cây tre lồ ô rồi nướng lên để ăn. Từ đó, con cháu người Pa Cô mới biết đến món ăn này và gọi tên theo tiếng Pa Cô là ơm pờ rèng.
Dẫn tôi vào rừng lồ ô ở xã Hồng Kim, nơi cộng đồng người Pa Cô cư trú đông nhất tại vùng cao A Lưới, chị Hồ Thị Môn và chị Hồ Thị Nga vừa đi vừa tự hào nói về món ơm pờ rèng của quê hương đầy lôi cuốn. Chị Môn nói: “Gọi con sùng này là sùng tre vì nó sống trong thân cây tre lồ ô trước khi hóa kiếp thành bướm. Sùng tre chỉ có vào mùa đông, đoạn từ tháng 10 âm lịch đến ra giêng. Người Pa Cô quý món này lắm, chỉ có khách quý hay con rể mới được ưu ái tiếp đãi để tỏ lòng quý mến”.
Nhìn rừng cây lồ ô xanh ngắt, nếu không phải là người bản xứ thì khó có thể nhận biết cây nào có sùng đang sống. Chị Môn, tay chỉ vào thân một cây lồ ô vừa nói: “Sùng thường ở những thân cây lồ ô non, đó là những cây măng già đang chuyển thành tre, hoặc vừa mới chuyển thành tre. Bởi lúc này, lồ ô mềm, nhiều chất dinh dưỡng, là nơi cư trú lý tưởng của sùng. Điểm dễ nhận biết là những cây lồ ô có sùng ở thường có những nốt chấm bên ngoài. Cây nào bị sùng sống nhiều quá thường bị còi, ốm yếu và hơi khô”.
Chị Môn kể thêm, đến mùa đông, mỗi lần lên rẫy, người dân ở đây lại khoái đi tìm sùng tre về nướng ăn. Nhiều người kéo nhau lên rừng lồ ô kiếm sùng tre về chợ bán. Không chỉ người Pa Cô yêu thích món này mà nó còn trở thành đặc sản vùng cao A Lưới, được khách thập phương đặc biệt ưa thích. Nhìn vẻ ái ngại của tôi, chị nhấn mạnh: “Cứ ăn thử một lần xem. Ăn là mê luôn đó. Về xuôi không có món này đâu. Nhiều người đã nếm thử và đều tấm tắc khen ngon”.
Ăn là ghiền !
Quan sát một khóm lồ ô xanh tốt, chị Nga dùng rựa chặt một thân cây măng lồ ô đang cố gắng thoát hình thành tre. Nhanh thoăn thoắt, chị dùng rựa khoét từng đốt cây. Từ những lỗ đó, từng đàn sùng tre từ từ bò ra, trắng và no tròn.
Chị Nga dùng một đốt cây lồ ô khác để đựng sùng. Chỉ một lúc, chị Nga đã nhanh chóng lấy được một ống sùng tre. “Bây giờ chỉ cần xuống suối rửa sạch rồi bỏ một ít muối, tiêu rừng, ớt rừng và vài củ kiệu vào ống lắc đều với sùng. Lấy một nắm lá cây rừng làm nùi đậy kín. Sau đó nướng lên khoảng 20 - 30 phút là chín”, chị Nga nói.
Nhặt vài nhánh cây khô ven suối, chị Nga nhanh chóng nhóm một đống lửa rồi lăn đều ống tre lồ ô trên lửa hồng. Thỉnh thoảng chị Nga lại lắc nhẹ để sùng chín đều. Theo chị Nga, khi nào nghe mùi thơm thơm, ống lồ ô cháy hơi đượm vàng là chín. Nướng chín quá sẽ không ngon vì sùng sẽ teo lại, không bùi và không béo. Người Pa Cô chỉ cần ngửi mùi thơm từ nắp nùi là biết sùng đã chín hay còn sống mà không cần canh thời gian. “Người đồng bào thích món nướng lắm. Ngày xưa, mỗi lần lên rẫy mùa này, người dân ở đây thường đem đi một nắm gạo. Đến bữa trưa, chỉ cần bỏ gạo vào nồi hoặc ống tre nấu lên. Còn thức ăn thì đi kiếm sùng tre và cá về nướng. Thức ăn rừng vừa ngon, vừa bổ, không cần thuốc thang gì nhưng vẫn qua cái rét của đất trời. Nhiều ngày lễ tết, vui chơi, tụ họp bạn bè, trai gái thường ngồi với nhau bên bếp lửa, uống rượu cần và cùng nướng ơm pờ rèng”, chị Nga kể.
Mùi sùng tre quyện với gia vị bắt đầu chín, thơm phức cả bờ suối, khiến bụng ai cũng cồn cào. Chị Nga nói, nếu hên gặp cây lồ ô nhiều sùng, ăn không hết thì cũng có thể để tuần sau ăn vẫn được. Chỉ cần cho sùng vào ống tre, lấy lá rừng làm nùi đậy, cho vào đó một vài lát măng rồi đem ngâm dưới suối. Ngày mai, ngày mốt hay cả tuần sau vẫn tươi ngon.
“Nhiều người ban đầu nhìn thấy sợ không dám ăn nhưng ăn được thì ghiền luôn. Làm rẫy cả buổi, nhóm lửa lên rồi xuống suối lấy sùng tre lên nướng ăn là sướng nhất, khỏe nhất. Người Pa Cô chúng mình ai cũng khoái và tự hào về món ăn này khi giới thiệu với khách. Mỗi khi có khách quý, mình mới đi kiếm món này về đãi”, chị Nga chia sẻ.
Sùng vừa chín, chị Nga và chị Môn đổ sùng ra trên ngọn lá chuối rừng. Mùi tiêu rừng quyện cùng mùi thịt nướng ống hấp dẫn lạ lùng. Cắn một miếng nghe bùi bùi, bở bở, béo béo, thơm thơm thật khó cưỡng.
Theo Tuyết Khoa (Thanhnien online)
Tải mã QRCode
Địa danh Thanh Hà thuộc xã Hương Vinh, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế ngày nay. Nằm phía bờ tả ngạn sông Hương, cách kinh thành Huế 4 km, cách cửa biển Thuận An khoảng 10km. Với vị trí trên bến, dưới thuyền, cư dân có truyền thống buôn bán, ở Thanh Hà sớm xuất hiện chợ làng, nơi hội tụ hàng hóa của cư dân các vùng lân cận.
Bộ sử bằng thơ này được các ông hoàng nhà Nguyễn khởi viết từ khoảng 1907-1916, kéo dài đến khoảng 1926. Ban đầu được lưu trữ ở thư viện gia đình Lục Khanh, sau được cất giữ ở chùa Từ Quang (Thừa Thiên - Huế). Vốn là tài liệu độc bản, viết tay bằng chữ Nôm, gồm 1.884 câu lục bát.
Huế có thể trở thành đô thị sinh thái thiên nhiên và sinh thái nhân văn, đô thị sang về Dĩ vãng và giàu về Hiện tại, nếu ta nhận thức rõ và ra sức bênh vực cái cơ ngơi mà nó sở hữu.
SHO - Chiều ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế tổ chức lễ Tổng kết trại sáng tác văn học nghệ thuật“ về đề tài "Con người và thiên nhiên quê hương Thừa Thiên Huế” tại văn phòng Liên hiệp hội, 26 Lê Lợi, thành phố Huế. Hơn 50 tác phẩm thuộc các chuyên ngành gồm: văn học, âm nhạc, nhiếp ảnh, hội họa... đã được sáng tác trong đợt này. Trại sáng tác khai mạc vào ngày 10/4 tại khách sạn Phong Lan, vườn quốc gia Bạch Mã, kéo dài trong 10 ngày bao gồm 4 ngày thực địa và 6 ngày hoàn thành tác phẩm tại nhà.
Xe chạy tầm 45 phút thi tới đỉnh điểm đậu xe gần Vọng Hải Đài, xuống xe bắt đầu đi bộ ra. Vọng Hải Đài là điểm cao nhất Bạch Mã, từ đây có thể nhìn được vịnh Lăng Cô, Hồ Truồi…
Từng viếng thăm nhiều ngôi chùa nhưng khi đến Đông Thiền, tôi thật sự thích không gian xanh mát tĩnh lặng nơi đây, cảm giác như được sống trong một thế giới khác.
SHO - Chiều ngày 10/4, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế đã tổ chức Khai mạc Trại sáng tác văn học nghệ thuật “Con người và thiên nhiên quê hương Thừa Thiên Huế” tại vườn Quốc gia Bạch Mã, Phú Lộc, Thừa Thiên Huế.
SHO - Sáng ngày 4/4, hàng trăm cựu chiến binh(CBB) của hai tiểu đoàn 804 - 810 (K4 - K10) đã có buổi họp mặt kỷ niệm 40 năm giải phóng Thừa Thiên Huế tại Ban chỉ huy Quân sự Thành phố, 25A Trần Cao Vân, Tp Huế.
Quốc tự Thánh Duyên toạ lạc ở Tuý Vân sơn, ngày trước thuộc phường Đông Am, tổng Diêm Trường, huyện Phú Lộc, phủ Thừa Thiên; nay là làng Hiền An, xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế. Cùng với Linh Mụ và Diệu Đế, Thánh Duyên là một trong ba ngôi quốc tự của xứ Thần kinh còn tồn tại cho đến ngày nay.
Không phải đền đài, lăng tẩm uy nghi mà chính những điều bình dị như góc phố yên bình hay giọng nói ngọt ngào đã để lại nỗi nhớ khôn nguôi trong lòng du khách.
Nhắc đến cố đô Huế, người ta không thể không kể tới các nhà vườn, bởi kiến trúc của nhà vườn Huế cũng có một lịch sử lâu đời trên 200 năm kể từ khi nhà Nguyễn xây dựng kinh đô.
SHO - Tối 26/3, tỉnh Thừa Thiên Huế đã tổ chức bắn pháo hoa tầm cao để chào mừng kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng hoàn toàn Thừa Thiên Huế (26/3/1975-26/3/2015).
SHO - Hòa chung trong không khí tiến tới kỷ niệm thống nhất đất nước, sáng ngày 26/3 tỉnh Thừa Thiên Huế trang trọng tổ chức Lễ mitting kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng Thừa Thiên Huế (26/3/1975- 26/3/2015) tại Sân vận động Tự Do, Thành phố Huế.
SHO - Chào mừng kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng quê hương Thừa Thiên Huế (26/3/1975- 26/3/2015), Liên hiệp các hội VHNT tỉnh Thừa Thiên Huế phối hợp với Hội Nhiếp ảnh Thừa Thiên Huế tổ chức khai mạc triển lãm ảnh thời sự nghệ thuật với chủ đề: “Thừa Thiên Huế- 40 năm xây dựng và phát triển” vào chiều ngày 25/3, tại Bảo tàng Văn hóa Huế - số 25 Lê Lợi - Thành phố Huế.
Tiếp bước hành trình khám phá những ngôi chùa Huế, ta sẽ đến với một ngôi chùa – một tổ đình – nơi thể hiện tấm lòng bao dung của nhà Phật với những con người không toàn vẹn – Từ Hiếu. Chùa nằm ở thôn Dương Xuân Thượng III, xã Thủy Xuân, thành phố Huế.
Khi bàn về Nhã nhạc người ta thường chú trọng nhiều đến thành phần, biên chế các loại dàn nhạc và bộ phận nhạc không lời do các nhạc cụ diễn tấu, mà ít đề cập đến một bộ phận quan trọng của Nhã nhạc là thể loại nhạc có lời.
Trong kiến trúc cung đình Nguyễn tại Huế, hình thức nhà tạ có mặt ở khắp nơi: Hoàng cung, Hành cung, Biệt cung và ở cả các lăng tẩm đế vương.
Để nhã nhạc cung đình Huế “sống lại” như ngày hôm nay, có công rất lớn của cụ Lữ Hữu Thi- nhạc công cuối cùng của triều Nguyễn. Cụ đã âm thầm, kiên trì vượt qua khó khăn trước những thăng trầm của lịch sử để giữ gìn và trao truyền ngọn lửa nhã nhạc, đưa nhã nhạc từ chỗ bị lãng quên trở thành di sản của nhân loại.
Nhà văn Nguyễn Tuân đã tinh tế nhận xét: “Người Huế ăn bằng mắt trước khi ăn bằng miệng”.
Ngài thủy tổ họ Hồ Đắc làng An Truyển, xã Phú An, huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế vốn là gốc từ ngoài bắc vào lập nghiệp thường được dân làng gọi là Hồ Quản Lãnh.