Tình cờ, chúng tôi được chứng kiến trọn lễ A Riêu Piing của người Pakô ở xã Hồng Trung, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Đây là lễ hội lớn nhất của người Pakô, được tổ chức 5 năm, thậm chí 10 năm một lần.
Đoàn Rờ Gióc (những vị khách không mời) nhảy múa vào lễ Ariêu Ping của người Pakô
A Riêu Piing của người Pakô là một hình thức gần với lễ Thanh Minh của người Kinh với việc làm mới nhà mồ cho những người đã mất. Người Pakô, cũng như các dân tộc anh em khác ở miền tây Thừa Thiên-Huế như Tà Ôi, Cơ Tu có tập tục khi một người chết đi, họ đem chôn nhưng chỉ chôn tạm thời. Sau 5 - 7 năm, có khi 10 năm tùy theo hoàn cảnh, họ lại dời đi chôn ở một nơi khác và lễ này gọi là A Riêu Piing.
A Riêu Piing là dịp để người Pakô thể hiện sự quan tâm, tình cảm của con cháu với ông bà tổ tiên. Cho nên, dù có bận việc gì, ở xa đến đâu, dịp này người làng cũng phải về đông đủ. Ngoài việc báo hiếu, lễ hội còn là dịp để thể hiện sự đoàn kết gắn bó giữa các làng Pakô với nhau qua việc khi một làng nào đó tổ chức thì các già làng, người của các làng khác cũng được mời dự một cách trang trọng.
Theo truyền thống Pakô, khách mời có vai trò quan trọng trong các nghi thức và trở thành đoàn thực hiện chủ đạo các hoạt động chính của lễ hội. Chính sự hiếu khách đã trở thành một nguyên tắc cho sự công nhận lễ hội A Riêu Piing của một làng được tổ chức thành công và đúng truyền thống. Khách thì có khách của làng, khách của thanh niên và khách của các họ tộc.
A Riêu Piing bắt đầu bằng việc đào mộ những người đã chết, bỏ hài cốt vào trong những cái tiểu, sau đó đem bỏ vào theo trật tự và thứ bậc dòng họ trong một cái lán được dựng lên ở gần ngoài khu dân cư của làng. Đây là không gian để người sống làm lễ thể hiện lòng thành, cũng như cầu xin tha thứ cho những lỗi lầm mà họ mắc phải giữa người sống và người chết. Cùng lúc tại sân trung tâm của làng - nơi diễn ra lễ hội, trâu, bò và dê đã được các họ trong làng mang đến cột đầy các cây cột giữa sân để chuẩn bị cho lễ hội đâm trâu.
Sau khi hoàn tất các bước chuẩn bị, người làng ra đường để đón các đoàn khách các làng bên. Già làng của chủ nhà đi trước dẫn đường, các già làng và đoàn nhạc lễ của làng đi theo sau. Đến gần đầu làng, già làng mở tiệc rượu đón chào. Tiệc tàn, chủ - khách lại tập hợp thành đoàn, vừa đi vừa tấu nhạc, hướng về sân trung tâm lễ hội để múa đâm trâu.
Họ múa vòng quanh sân trung tâm. Những thành viên trong đoàn múa không có nhạc cụ thì phải múa theo điệu A-zưng: Chân giậm dừng và xoay xoay trên 2 mũi bàn chân; tay thì vừa múa vừa hạ thấp. Trong khi đó, những thành viên có nhạc cụ thì múa theo tiếng nhạc mà mình đang trình diễn...
Tiếp theo, cả đoàn lại đến sân trung tâm để thực hiện nghi lễ đâm trâu. Nghi lễ đâm trâu là thể hiện sự cam kết tình cảm giữa làng với làng, người với người, người với thần linh, họ tộc với họ tộc. Sau khi trâu được đâm chết, một người phụ nữ cầm tấm khăn choàng ra phủ lên đầu chúng và chúc phúc cho chúng vì chúng đã mang lại may mắn, đoàn kết cho làng.
Xong nghi lễ đâm trâu, mọi người trở về nhà mình để xẻ thịt trâu, bò, dê... cúng tế tổ tiên. Đến nửa đêm, mọi người lại tập trung để thực hiện lễ Ra-zoọc - nghi thức mừng cho sự chuyển giao thời gian giữa đất trời và con người, là cơ hội gắn kết các tầng lớp, các lứa tuổi, các làng Pakô lại với nhau. Một đoàn múa và tấu nhạc gọi là đoàn Ra-zoọc, sẽ di chuyển từ sân trung tâm về cái lán có hài cốt bên ngoài làng. Sau khi đi một vòng quanh lán, họ chia thành từng nhóm và đi đến các nhà gần đó để múa hát trước cửa nhà và nhận từ tay chủ nhà những cái bánh nếp cùng những bát rượu lớn.
Sau một lượt đi nhận sự chia sẻ của các chủ nhà, các nhóm của đoàn Ra-zoọc hướng về sân trung tâm. Một đống lửa được đốt lên cùng với tiếng tâng-cói, tiếng khèn, tiếng xi-xía, tiếng thanh la, tiếng chiêng... vang lên. Cả đoàn nhảy múa một cách tự do tùy thích, ưa gì múa nấy. Điều họ hướng đến lúc này là sự hòa đồng giữa người với người, sự hòa nhịp giữa điệu múa và tiếng nhạc, và sự thể hiện hết mình của người tham gia lễ hội...
Tờ mờ sáng hôm sau, mọi người tập trung lại ở cái lán ngoài làng để dâng lễ, khấn nguyện bày tỏ lòng biết ơn và cầu mong được sức khỏe, làm ăn phát đạt. Xong lễ, mọi người mang theo hài cốt của người thân hướng về một ngọn núi có tên là Tiến Côn. Ở đó, những nhà mồ mới đã được chuẩn bị từ mấy ngày trước để làm nơi yên nghỉ mới và vĩnh viễn cho những người đã khuất...
Theo Hoàng Văn Minh (Lao động)
Tải mã QRCode
Chiều 3/10, chiếc xe kéo của Hoàng thái hậu Từ Minh, mẹ vua Thành Thái chính thức được chuyển vào Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp để chuẩn bị đưa về Việt Nam.
Đèo Hải Vân nằm trên dãy Trường Sơn, ở ranh giới 2 tỉnh Thừa Thiên-Huế (phía bắc) và TP.Đà Nẵng (phía
Cứ đến gần cuối năm, khi lúa trên rẫy đã đến độ chín vàng. Trời đông cũng đang se sắt lạnh, sương trắng bồng bềnh bay trên đỉnh núi A Túc là lúc mà toàn thể dân làng dù là tộc người Pacôh, TàÔi, Cơtu hay Pa hy.
Là điểm du lịch nổi tiếng của Thừa Thiên - Huế, Bạch Mã có rất nhiều nơi để tham quan như: Thác Đỗ Quyên, Ngũ Hồ, Vọng Hải Đài với vẻ đẹp của núi trời như một bức tranh thủy mặc.
Sau chiến tranh, gần 2/3 trong tổng số gần 300 công trình kiến trúc nghệ thuật cung đình của cố đô Huế trở thành phế tích, số còn lại trong tình trạng hư hại, xuống cấp nghiêm trọng. Cùng với việc nỗ lực hàn gắn vết thương chiến tranh, tỉnh Thừa Thiên - Huế đã mở cuộc vận động bảo vệ di tích Huế và đạt kết quả to lớn.
Được xây dựng cách đây hơn 400 năm với bao biến động nhưng chùa Thiên Mụ vẫn giữ được vẻ uy nghi, thanh tịnh và cổ kính bên dòng sông Hương...
Không nơi đâu người phụ nữ lại thích mặc áo dài như ở Huế. Thậm chí, chiếc áo dài đã trở thành biểu tượng của các cô gái Huế. Điều đó đã làm cho du khách khi đến với Huế nhiều khi phải ngẩn ngơ khi có dịp được ngắm nhìn, chiêm ngưỡng.
Thời 13 vua Nguyễn (1802-1845) trị vì triều đại phong kiến cuối cùng Việt Nam đóng kinh đô tại Huế đã ghi nhận một số hoạt động khá phong phú của ngựa, dù thời này ngựa ít được dùng vào hoạt động quân sự.
Trong tất cả các triều đại phong kiến, duy nhất ở cố đô Huế có Bình An Đường là nhà an dưỡng và khám, chữa bệnh đặc biệt chỉ dành riêng cho các thái giám, cung nữ (thời vua nhà Nguyễn).
Huế, miền đất cố đô nằm ở miền trung Việt Nam, vẫn được biết đến như một thành phố thơ mộng và lãng mạn.
Đối với di sản văn hóa của dân tộc, tài liệu châu bản là một di sản có giá trị lớn. Đó là ký ức của lịch sử, là nguồn sử liệu gốc có ý nghĩa to lớn đối với việc nghiên cứu và biên soạn lịch sử dân tộc. Tuy nhiên, hầu hết các triều đại phong kiến Việt Nam đều không còn lưu giữ được nguồn tài liệu quý báu này, trừ triều Nguyễn (1802-1945), do những điều kiện lịch sử đặc biệt.
Hình ảnh thiên nhiên, con người và những lăng tẩm đền đài của xứ Huế vương vấn bước chân du khách mỗi lần có dịp ghé qua...
Làng Mỹ Lợi (xã Vinh Mỹ) và làng An Nông (xã Lộc Bổn, huyện Phú Lộc, Thừa Thiên- Huế) là nơi lưu giữ những tài liệu chứng minh chủ quyền biển đảo Hoàng Sa của nước ta. Những tài liệu quý hàng trăm năm tuổi được người dân các ngôi làng này xem như báu vật và dốc sức giữ gìn.
Ngày 15/8/1945, Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng Minh cũng là lúc ở Việt Nam, các thế lực bước vào một cuộc chạy đua nước rút để nắm quyền định đoạt tương lai nước này sau 80 năm là thuộc địa Pháp.
Khải Định đã tìm được một thế đất dường như “sinh ra để làm nơi ngả lưng cho một linh hồn quyền quý”…
Chỉ xếp sau Hà Nội, cũng giống như Quảng Nam, Thừa Thiên-Huế là tỉnh sở hữu cùng lúc 2 di sản đã được Unesco công nhận, đó là Di sản văn hóa phi vật thể Nhã nhạc Cung đình và Di sản văn hóa thế giới Cố đô Huế.
Được xây dựng đã lâu nhưng các cây cầu độc đáo ở Huế, Hội An, Nam Định... vẫn giữ được nét đẹp kiến trúc thuở ban đầu.
Trải qua hơn 150 năm, nhiều thắng cảnh trong “Thần kinh nhị thập cảnh” do vua Thiệu Trị lựa chọn đã bị lụi tàn hoặc không còn nguyên vẹn. Nhưng đến Huế, du khách vẫn nhận ra vùng đất cố đô vẫn còn những thắng cảnh mang vóc dáng, hình hài của 20 cảnh đẹp Huế đô xưa.
Ngày 25-6, WWF và Microsoft tổ chức hội thảo chia sẻ thành công của dự án “Tăng cường rừng ngập mặn nhằm góp phần thích ứng biến đổi khí hậu và bảo tồn đa dạng sinh học vùng đầm phá ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế”, đồng thời công bố tiếp tục hỗ trợ dự án với phương pháp tiếp cận tích hợp hơn.
Thư viện Tổng hợp Thừa Thiên Huế vừa mới cùng với Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh về tại Đình làng Thủ Lễ thực hiện đề tài “nghiên cứu, sưu tầm, số hóa Hán Nôm”.