DUYÊN AN
|
Thơ Duyên An ao ước làm cuộc trở về miền thinh lặng sẵn đó. Thơ như tri âm với chủ thể cùng hành trình qua bao nhọc nhằn trần ai. Những dòng thơ băng qua triền phược của rừng ý niệm với những “vết thương óng nhựa” để phiền lụy trơn trượt khỏi nghĩa nhân sinh. Có dòng thơ nhẹ tênh, ngữ ngôn hồ như bóng lá rụng bên hiên cổ tự. “Người tìm gì ở phía xa xôi”? Thơ Duyên An thường không cố tìm gì, đơn giản là “thấy”, để thấm cuộc trở về, ở đó thì sẵn mênh mang. Duyên An tên thật là Nguyễn Thị Nguyệt Trinh, sinh năm 1980, đã có một số đầu sách truyện cho thiếu nhi, hiện sống và dạy học, nghiên cứu, sáng tác ở Bình Định; có thơ đăng ở các báo và tạp chí. Duyên An tâm sự: “Làm thơ trước hết là viết cho mình, lưu lại những cảm xúc, những khoảnh khắc mình muốn giữ, cùng với, tìm kiếm những đồng điệu sẻ chia giữa vô tận cõi người”. Tạp chí Sông Hương giới thiệu đến bạn đọc chùm thơ của tác giả Duyên An. |
Rừng già
Ngón mềm địa y, dương xỉ, rong rêu
Vòng ôm ràng rịt trăm năm
Tầng nối tầng, cây nối cây,
cao thấp nương nhau chia từng chùm sáng
Lá phổi xanh chằng chịt mạch máu
Cộng sinh và tồn sinh.
Lưỡi dao thản nhiên lia qua đời cây
Bàn chân giày bầy rêu trên đất
Cây nằm đau vết thương óng nhựa
Đá nằm đau nứt toác thân mình
Rừng nằm đau giống loài biến mất
Nước mắt rong rêu thành nước mắt rừng
Ai nghe, ai không nghe?
Nước mắt rừng cạn khô
Tầng vỉa lòng người
Trơ đáy.
Cổ tự
Thả từng câu rêu mềm bậc đá
Trải lời chim thong thả nhịp non ngàn
Từng bóng nắng loang nỗi niềm cô tịch
Gió mười phương thơm thoảng phiến u lan.
Chân bước chậm để nghe từng giọt lá
Giọt kinh văn rơi xuống từ trời
Kinh không chữ từng phút giây biến ảo
Người tìm gì ở phía xa xôi.
Từng bậc lên để hay mình bé lại
Ngửa mặt trông vòi vọi non xanh
Hãy ngồi xuống để biết mình là đá
Đã mòn từ tiền kiếp mù tăm.
Từng bước sóng âm âm lời cổ tự
Trong đá kia có tiếng biển rì rào
Xanh đã biếc giữa trập trùng xám bạc
Hạt muối người thôi mặn với xưa sau.

Cây cầu đổi màu
Tôi tìm gì
đêm mùa hạ rạc rài bảng đèn xanh đỏ
tự hỏi cây cầu sẽ đổi màu gì ở giây tiếp theo
và đoán trật
đơn giản vậy tôi còn không biết.
Mình đã như sông
chị đã cười nụ cười sen, đã nhịp đôi guốc gỗ và nắm tay em
thật chặt
tấm ảnh của chúng ta sau lưng có cây cầu đổi màu
khi màu ảnh lạt đi, nụ cười ấy em còn nhớ.
Đã mưa xóa dấu Hoàng thành
đã vui như trẻ thơ dù không biết mình đang về đâu
mùa hạ vẫn sen
chỉ chúng mình chẳng thể nào trở lại
dù gõ guốc đến rộp chân.
Cây cầu giây sau sẽ đổi màu gì
em không biết
xòe tay chỉ thấy sông trôi.
(TCSH426/08-2024)
Tải mã QRCode
NGUYỄN VĂN DINH
NGỌC TUYẾT
Trần Xuân An - Lý Hoài Xuân - Mai Nguyên - Trần Thị Huyền Trang - Trần Bá Đại Dương - Nguyễn Loan - Trần Thị Hiền - Đỗ Văn Khoái - Phùng Tấn Đông - Hồ Huệ - Tôn Lệ Thu Châu - Nguyễn Hữu Quý - Nguyễn Phi Trinh - Việt Trác
Tế Hanh - Hoàng Vũ Thuật - Nguyễn Khắc Mai - Tuyết Nga - Thái Ngọc San - Đặng Thị Kim Liên - Trần Vạn Giả - Huỳnh Duy
HẢI KỲ
Lê Văn Ngăn - Nguyễn Xuân Thâm - Phan Lệ Dung - Bành Thanh Bần - Đào Duy Anh
LÂM THỊ MỸ DẠ
HỒNG NHUChiếc tàu cau (Trích)
Minh Huệ - Xuân Quỳnh - Phương Thúy - Trần Thị Hiền - Trần Hải Sâm - Trần Khắc Tám - Hà Linh Chi - Mai Văn Hoan - Văn Tăng - Thiệp Đáng - Nguyễn Thành Phong - Hà Nhật
LTS: “Đi về sao chửa về đi” có lẽ là câu nhắn nhủ nhiều ý nghĩa nhất của Đào Tiềm vào cuối cuộc nhân sinh. Mười năm trước, ở tuổi bảy mươi, sau hơn 50 năm gắn bó với thơ ca, nhà thơ Tường Linh đã viết bài “Khúc ca quy ẩn” như lời từ giã đời thơ.
LTS: Đỗ Hoàng, sinh ngày 11-10-1949 tại Lệ Ninh, Quảng Bình, có thơ in từ năm 1970 ở các sách báo Trung ương và địa phương. Các tập thơ đã được xuất bản: Mùa lên xanh (in chung) - NXB Tác phẩm Mới 1978; Những miền đất nhớ (in chung) - NXB Lao động năm 1983; Những cánh rừng (in chung) - NXB Thanh niên năm 1984…
Đông Hà - Từ Nguyễn - Đông Triều - Quách Thành - Nguyễn Nhã Tiên - Nguyễn Trọng Văn - Quang Huy - Lê Văn Doãn - Trần Nhuận Minh.
L.T.S: Lý Hoài Xuân: Tên thật là Nguyễn Quốc Duẩn, sinh ngày 26-12-1954 tại Lệ Ninh, Quảng Bình. Tốt nghiệp đại học Luật. In thơ từ năm 1973. Là một chiến sĩ quân đội có mặt trong chiến trường Trị Thiên trong những năm ác liệt nhất. Có nhiều bài thơ và truyện ngắn in trên các báo, tạp chí Văn nghệ, Văn nghệ quân đội , Quân đội nhân dân, Đại đoàn kết, Độc lập, Đất Quảng… và sách của NXB Thuận Hóa , Công an nhân dân.
Thêm một biệt thơ hòa vào xu trào cách tân của Thơ Việt; Phan Quỳnh Dao với bút năng khỏe, cách lập ngôn ngoài khuôn cũ, thơ dòng nào cũng đầy ắp nỗi niềm trong tầng tầng suy tư... Chị vừa xuất bản tập thơ “Khuyết” cuối năm 2010 vừa rồi. Xin trân trọng giới thiệu.Đàn An Nguyên (gt)
Nguyễn Văn Dinh sinh ngày 5-3-1932 tại Quảng Trạch, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Có thơ in từ năm 1952. Các tập thơ đã xuất bản: “Hát về ngọn lửa” (in chung), “Cánh buồn quê hương” (in chung), “Hoa trăm miền” (in chung). Giải thưởng về đề tài chống Pháp 1953 của Bộ tư lệnh quân khu 4. Giải thưởng cuộc thi về đề tài lâm nghiệp của Bộ Lâm nghiệp 1969-1971. Giải thưởng văn học Bình Trị Thiên 7 năm 1976-1982.
ĐINH CƯỜNGMười năm rồi Sơn ơi
NGUYỄN PHAN QUẾ MAI
Xuân Hoàng - Nguyễn Xuân Thâm - Phạm Ngọc Cảnh - Mai Nguyên - Thế Dũng - Hải Vân - Hà Đức Hạnh
PHAN DUY NHÂNThơ xuân đọc với nam hà
Lê Huỳnh Lâm - Triệu Nguyên Phong - Nguyễn Hữu Hồng Minh - Trần Ninh Hồ - Phùng Tấn Đông - Trần Hữu Lục - Phạm Trường Thi - Nguyễn Man Kim - Tôn Nữ Thu Thủy - Trương Đăng Dung - Lê Huy Quang - Đoàn Mạnh Phương - Châu Thu Hà - Lê Ngã Lễ - Lâm Anh - Đỗ Văn Khoái - Nguyễn Khắc Thạch - Lê Tấn Quỳnh