LÊ NHẬT KÝ
Sông Hương là đề tài hấp dẫn đối với nhiều nhà thơ Việt Nam. Ngay từ thời trung đại, sông Hương đã trở thành nguồn cảm hứng sáng tác của không ít nhà nho - thi sĩ như Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ...
Ảnh: tư liệu SH
Tiếp nối mạch cảm hứng đó, các thi sĩ ở nửa đầu thế kỉ XX đã sớm làm cho dòng thơ về sông Hương (gọi gọn là thơ sông Hương) trở nên có sắc vóc, đa vẻ khi họ “không bao giờ tự lặp lại mình”1 trong từng thi phẩm.
1. Thi sĩ thơ sông Hương chủ yếu là các cây bút Thơ Mới
1.1. Thời kì 1900 - 1945 có một vị trí đặc biệt trong lịch sử phát triển nền văn học Việt Nam khi bắt đầu chịu ảnh hưởng của cuộc tiếp xúc văn hóa Đông - Tây. Kết quả của cuộc tiếp xúc văn hóa đó là sự chuyển mình của nền văn học theo hướng hiện đại. Một thế hệ văn nhân thi sĩ mới ra đời, không ngừng đem đến cho công chúng những tác phẩm mới mẻ cả về thể loại lẫn nội dung cảm hứng. Lực lượng tác giả viết về sông Hương cũng không ngoài diễn tiến chung đó.
Theo quan sát của chúng tôi, số người làm thơ về đề tài sông Hương đã đông hơn, có thể phân thành ba nhóm như sau:
- Thứ nhất, đó là các cây bút có nhiều gắn bó với nền thơ trung đại. Nhóm này gồm có Tản Đà và Ưng Bình Thúc Giạ Thị. Trong Thi nhân Việt Nam, nhà phê bình Hoài Thanh gọi họ là “người của hai thế kỷ”, “còn giữ được của thời trước cái cốt cách vững vàng” song vẫn “gần chúng tôi lắm”2. Tản Đà không có bài thơ nào viết riêng về sông Hương, chỉ có mấy câu sau đây trong bài Chơi Huế (1921): “Lại bao phố xá ngoài thành/ Trên cầu xe ngựa, ghe mành dưới sông/ Đông Ba, Gia Hội càng đông/ Nhịp cầu nhẹ bước xa trông càng tình/ Dòng sông trắng, lá cây xanh/ Xuân giang xuân thụ cho mình nhớ ai”. Ưng Bình Thúc Giạ Thị được biết đến rộng rãi hơn với những câu thơ chạnh lòng non nước: “Chiều chiều trước bến Văn Lâu/ Ai ngồi ai câu, ai sầu ai thảm/ Ai thương ai cảm, ai nhớ ai trông/ Thuyền ai thấp thoáng bên sông/ Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non…” (Chiều chiều trước bến Văn Lâu, 1937).
- Thứ hai, đó là các cây bút trưởng thành từ phong trào Thơ Mới. Nhóm này đông, gồm có Nguyễn Bính, Đông Hồ, Hàn Mặc Tử, Nam Trân và nhiều tên tuổi khác. Điểm nổi bật ở nhóm tác giả này là vừa trẻ tuổi đời, vừa rất tài năng. Họ có nhiều bài thơ hay về sông Hương, qua đó, góp phần gia tăng ảnh hưởng của phong trào Thơ Mới. Đến nay, những câu thơ, bài thơ của các thi sĩ Thơ Mới vẫn giữ được sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với bạn đọc, dù thị hiếu thẩm mỹ đã thay đổi khá nhiều: “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó/ Có chở trăng về kịp tối nay” (Hàn Mặc Tử, Đây thôn Vỹ Dạ), “Bến sông thuyền ngủ lưa thưa/ Tiếng chuông Diệu Đế gió đưa lại gần” (Nam Trân, Tiếng chuông Diệu Đế), hay: “Cầu cong như chiếc lược ngà/ Sông dài mái tóc cung nga buông hờ” (Nguyễn Bính, Vài nét Huế)…
- Thứ ba, đó là nhà thơ Tố Hữu. Ông là nhà thơ trẻ tuổi theo lí tưởng cộng sản, tác giả bài thơ Tiếng hát sông Hương, viết năm 1938. Ngày trước, bài thơ này được phổ biến rộng rãi, thể hiện rõ cảm hứng lãng mạn cách mạng của ông với niềm tin mãnh liệt vào tương lai tươi sáng của người kỹ nữ: “Ngày mai, cô sẽ từ trong tới ngoài…”.
Như vậy, về mặt loại hình, tác giả thơ sông Hương nửa đầu thế kỉ XX chủ yếu là các nhà thơ trưởng thành từ phong trào Thơ Mới. Họ được đào tạo từ nhà trường Pháp - Việt, tiếp nhận có hệ thống các giá trị văn chương lãng mạn phương Tây, đồng thời cũng có một nền tảng văn hóa dân tộc vững chắc. Tất cả những điều đó sẽ vừa chi phối, vừa đảm bảo làm nên thành công cho các thi sĩ trên hành trình sáng tạo thơ ca.
1.2. Dựa vào tiêu chí quê quán, chúng tôi thấy có rất ít nhà thơ xứ Huế viết về đề tài sông Hương. Phải chăng, sông Hương đẹp nên hấp dẫn các thi sĩ trong Nam ngoài Bắc nhiều hơn?
Về hoạt động trải nghiệm - sáng tác của các tác giả này, theo chúng tôi, có thể miêu tả thành hai nhóm như sau:
- Nhóm thứ nhất bao gồm những tác giả ngang qua Huế, đến Huế chơi một thời gian ngắn; gồm có Tản Đà, Văn Cao, Vũ Đình Liên và một vài tác giả Thơ Mới khác. Hầu hết, họ chỉ lưu lại một bài thơ về sông Hương: Tản Đà - Chơi Huế (1921), Đông Hồ - Trong đôi mắt Huế (1939), Văn Cao - Một đêm đàn lạnh trên sông Huế (1940), Khổng Dương - Bến Vỹ Dạ (1943)… Trường hợp Nguyễn Bính có phần đặc biệt hơn khi ông lưu lại Huế lâu hơn (một năm) và có nhiều bài thơ về Cố đô nói chung và sông Hương nói riêng: Giời mưa ở Huế, Vài nét Huế, Thu rơi từng cánh, Một con sông lạnh…
- Nhóm thứ hai gồm những tác giả đến Huế học tập và làm việc, có Nam Trân, Tế Hanh, Bích Khê, Thái Can… Trong đó, tiêu biểu hơn cả là nhà thơ Nam Trân. Ông người Quảng Nam, ra Huế học tập rồi làm việc tại tòa Khâm sứ một thời gian khá dài. Năm 1939, ông xuất bản tập Huế Đẹp và Thơ, gồm 37 bài, xoay quanh cảm hứng về cảnh đẹp xứ Huế. Đó là kết quả của hành trình say mê khám phá vẻ đẹp thiên nhiên và con người xứ Huế, đúng như ông viết: “Rằng Thơ thấy Đẹp phải tìm theo” (Đẹp và Thơ). Mặt khác, ông viết về sông Hương bằng tâm thế người trong cuộc, xem Huế như quê hương của mình. Trong bài thơ Núi Ngự sông Hương, ông dùng hai từ “Huế tôi” rất đỗi tự hào: “Huế tôi cảnh đẹp như mơ/ Đế đô là một bài thơ muôn vần”. Trong Thi nhân Việt Nam, nhà phê bình Hoài Thanh đánh giá cao đóng góp này của tác giả Huế Đẹp và Thơ với văn chương Huế: “Thiết tưởng vị tình láng giềng đất Quảng Nam không thể gửi ra xứ Huế món quà nào quý hơn nữa; lần thứ nhất những vẻ đẹp xứ này được diễn ra thơ”3.
Tóm lại, thơ sông Hương nửa đầu thế kỉ XX được sáng tác bởi các cây bút Thơ Mới, những vị khách của xứ Huế mộng mơ. Với đặc điểm về tác giả như vậy, thơ sông Hương nửa đầu thế kỉ XX tất yếu sẽ mang vẻ đẹp của thơ lãng mạn, thể hiện ở cả nội dung cảm hứng lẫn phương thức trữ tình.
2. Cảm hứng chủ đạo là sông Hương đẹp mà buồn
2.1. Đặc điểm nổi bật của thơ sông Hương nửa đầu thế kỉ XX là sự tập trung về mặt cảm hứng. Dù viết về vấn đề gì, tiếp cận đối tượng từ góc độ nào, các nhà thơ đều không ngoài mục đích khắc họa hình tượng sông Hương với hai phẩm chất nổi bật là Đẹp và Buồn. Hai phẩm chất này hầu như xuyên thấm vào nhau, hiện hữu trong nhau, làm nên hình ảnh sông Hương đẹp mà buồn trong ấn tượng chung của người đọc xưa nay. Trong số những thi phẩm mà chúng tôi sưu tập được, Trên sông Hương (1936) của Thái Can có lẽ là bài thơ trong trẻo nhất, miêu tả hình ảnh các em học sinh vui vẻ “đi đò qua sông Hương” sau mỗi buổi tan trường: “Sông Hương dòng phẳng lặng/ Xanh xanh nước thủy triều/ Qua sông đò sẵn đó/ Vui vẻ biết bao nhiêu”. Bài thơ gồm 17 khổ, không chỉ toàn niềm vui mà còn có nỗi buồn sông nước: “Dưới sông nhiều hiệp sĩ/ Gửi xác khinh công hầu” (khổ 7), “Kia kìa nhà thi sĩ/ Trên sông ngâm thơ sầu!” (khổ 9). Như vậy, sự xuất hiện của hai khổ kể trên ngoài việc mở rộng nội dung tác phẩm còn phản ánh đặc điểm sáng tạo của các thi sĩ nửa đầu thế kỉ XX.
Cảm hứng về sông Hương đẹp mà buồn vốn đã xuất hiện trong thơ ca thời trung đại, thường được biết đến qua hai câu thơ sau đây của Nguyễn Du: “Hương giang nhất phiến nguyệt/ Kim cổ hứa đa sầu” (Thu chí). Lưu ý điều này để thấy dấu ấn kế thừa và phát triển của các nhà thơ thời kì hiện đại hóa. Rõ ràng, với những lợi thế do hoàn cảnh xã hội, mối quan hệ tiếp xúc văn hóa Đông - Tây đưa lại, các thi sĩ (nhất là thi sĩ Thơ Mới) đã nâng lên thành cảm hứng chủ đạo, phù hợp với việc biểu đạt điệu hồn lãng mạn, đồng thời tạo sự khác biệt nhất định với thơ sông Hương thời trung đại cũng như từ sau năm 1945 trở lại đây.
2.2. Biểu hiện của nội dung cảm hứng sông Hương đẹp và/mà buồn trong thơ ca nửa đầu thế kỉ XX khá đa dạng, đậm nhạt ở từng thi phẩm cụ thể. Tuy vậy, có thể quy về hai mạch cảm hứng thể hiện các vẻ đẹp khác nhau của đối tượng trữ tình, là đẹp thơ mộng và đẹp mà buồn.
2.2.1. Trước hết, có khá nhiều câu thơ, bài thơ nói về vẻ đẹp thơ mộng của sông Hương. Đó là vẻ đẹp của sự hòa điệu giữa sông nước và con người, giữa tự nhiên và văn hóa. Trong bài Núi Ngự sông Hương, Nam Trân ví sông Hương là “cô gái mĩ miều” (Sông Hương cô gái mĩ miều). Bích Khê cũng có cái nhìn tương tự: “Dòng Hương in gái nguyên lành” (Huế đa tình). Trong cảm nhận của các thi sĩ là hiện thân của vẻ đẹp nữ tính, dịu dàng và quyến rũ, thơ mộng và huyền ảo, đúng như nhạc sĩ Trương Tuyết Mai sau này từng khẳng định là “không nơi nào có được”.
Ở nội dung này, người đọc có được niềm vui khi tìm thấy ở thơ sông Hương nửa đầu thế kỉ XX những câu thơ, bài thơ miêu tả cảnh vật, con người xứ Huế thật đẹp, thật đáng yêu. Có thể kể đến thơ Nam Trân với hình ảnh chân thực về: “Mặt trời gay gay đỏ/ Nhuộm đỏ góc sông Hương” (Huế, ngày hè), hay cảnh nhà nhà ra sông Hương hóng gió: “Ba dịp cầu Trường Tiền/ Đứng dày người hóng mát/ Ngọn gió Thuận An lên/ Áo quần kêu sột soạt” (Huế, đêm hè). Nam Trân được yêu thích nhiều hơn cả chính là bài Đẹp và Thơ, miêu tả hình ảnh cô gái chèo thuyền như một vẻ đẹp đặc trưng của sông Hương: “Thuyền nan đủng đỉnh sau hàng phượng/ Cô gái Kim Luông yểu điệu chèo/ Tôi xuống thuyền cô, cô chẳng biết/ Rằng Thơ thấy Đẹp phải tìm theo”. Khổ thơ trên không chỉ có giá trị miêu tả mà còn thể hiện quan điểm sáng tác của nhà thơ Nam Trân nói riêng, các thi sĩ Thơ Mới nói chung. Bên cạnh Nam Trân, nhiều nhà thơ khác cũng rất thành công khi miêu tả vẻ đẹp thơ mộng, quyến rũ của sông Hương. Chúng tôi muốn nhắc đến Bích Khê với câu thơ: “Dòng Hương in gái nguyên lành/ Lá thuyền du khách thanh thanh tiếng đờn” (Huế đa tình), Hàn Mặc Tử: “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó/ Có chở trăng về kịp tối nay” (Đây thôn Vỹ Dạ), hay Khổng Dương: “Vàng chảy ra ngòi lấp lánh sông” (Bến Vỹ Dạ), và Tố Hữu: “Trên dòng Hương giang/ Em buông mái chèo/ Trời trong veo/ Nước trong veo…” (Tiếng hát sông Hương)…
2.2.2. Gây ấn tượng mạnh với người đọc hơn cả là những câu thơ, bài thơ viết về sông Hương mang vẻ đẹp buồn. Trong số 30 bài thơ sưu tầm được, chúng tôi thấy có 20 bài xuất hiện các từ “buồn”, “sầu”, hoặc gần nghĩa như “não nùng”, “u hoài”… Ở một số bài, các từ kể trên được lặp đi lặp lại nhiều lần, có tác dụng nhấn mạnh tính chất cảm xúc, phẩm chất của hình tượng thơ sông Hương nửa đầu thế kỉ XX.
Cảm hứng đẹp mà buồn trong thơ sông Hương nửa đầu thế kỉ XX thường được miêu tả qua hình ảnh người phụ nữ. Cụ thể, đó là hình ảnh cung nữ nhớ nhà trong thơ Nguyễn Bính: “Có người cung nữ họ Vương/ Lên lầu nhìn dải sông Hương nhớ nhà” (Thu rơi từng cánh), là em Tuệ trong thơ Thúc Tề: “Em buồn trông mòn mỏi/ Cánh nhạn bên sông Hương” (Em buồn), hay kĩ nữ với giọng hát sầu bi trong thơ Văn Cao: “Giọng hát sầu chi phấn nữ ơi/ Từng canh trời điểm một sao rơi/ Tà tà trăng lặn hiu hiu gió/ Ánh lửa chài xa thấp thoáng trôi” (Một đêm đàn lạnh trên sông Huế). Ở Sóng bạc tình, Nam Trân khai thác câu chuyện “thiếu nữ vô danh khóc duyên tàn” bằng “bức thư tuyệt tình, lòng ai oán”. Với nhà thơ, đó là một câu chuyện thương tâm, không phải đơn lẻ nơi dòng Hương thủy này: “Tâm sự còn bao khúc não nùng”.
Trong tương quan chung, bài thơ Tiếng hát sông Hương của Tố Hữu được viết theo một phong cách khác, tiếp cận đề tài sông Hương từ góc nhìn của một người cộng sản trẻ tuổi tràn đầy nhiệt huyết đấu tranh xã hội. Tuy vậy, bài thơ vẫn có sự gần gũi nhất định với các bài thơ khác cùng chủ đề. Cụ thể, sau khi giới thiệu cho người đọc về vẻ đẹp sông Hương “Trời trong veo/ Nước trong veo” (đoạn đầu), nhà thơ chuyển sang miêu tả tâm sự của cô gái về cuộc sống ô nhục trên con thuyền rách nát: “Thuyền em rách nát/ Mà em chưa chồng/ Em đi với chiếc thuyền không/ Khi mô vô bến rời dòng dâm ô”. Toàn bộ tâm sự của cô gái là mong muốn một cuộc sống gia đình ấm êm, sớm thoát khỏi kiếp giang hồ trên sông nước. Có thể nói, trong sự sáng tạo độc lập ở một dòng riêng, nhà thơ Tố Hữu cũng đã khắc họa nên hình ảnh một sông Hương đẹp mà buồn, có giá trị nhất trong việc tố cáo xã hội đương thời.
Như vậy, sông Hương trong thơ nửa đầu thế kỉ XX không chỉ là “sông trăng” (Hàn Mặc Tử), là “cô gái mĩ miều” (Nam Trân) mà còn là “một dòng sông lạnh” (tên một bài thơ của Nguyễn Bính), một không gian lạnh (Văn Cao, Một đêm đàn lạnh trên sông Huế). Việc khám phá ra những chiều kích không gian, tâm hồn như thế đã khiến cho hình ảnh sông Hương trở nên đa dạng hơn trong cảm nhận của người đọc. Nói cách khác, vẻ đẹp của sông Hương mang tính phức điệu, trong đó gam màu buồn có phần đậm nét hơn…
3. Thơ sông Hương giàu yếu tố thuật hứng
Khái niệm thuật hứng được dùng ở đây nhằm chỉ sự hứng thú bày tỏ tình cảm, nhận thức của nhà thơ trước thế giới tự nhiên và xã hội. Trong sự bày tỏ này, nhà thơ thường dựa vào việc tái hiện các sự kiện đời sống thông qua miêu tả thiên nhiên hoặc thuật lại những sự việc, tình huống cần thiết, có giá trị kiến tạo cảm xúc. Như vậy, thuật hứng là kể, tả một cách say mê, hướng vào phục vụ yêu cầu nghệ thuật trữ tình, làm cho cảm xúc thơ thăng hoa và kết tinh trong hình tượng nghệ thuật.
3.1. Đưa truyện vào thơ là một cách làm khá phổ biến ở các nhà thơ nửa đầu thế kỉ XX. Cụ thể, các yếu tố kể, tả xuất hiện tương đối đậm nét ở các bài như Trên sông Hương (Thái Can), Sóng bạc tình, Núi Ngự sông Hương (Nam Trân), Màu đỏ đang rung (Phạm Hầu), Chơi Huế (Tản Đà)… Lấy ví dụ bài Sóng bạc tình, chúng tôi thấy nhà thơ mở đầu tác phẩm bằng việc kể lại chuyện “khách du vớt được mảnh giấy nhỏ” trôi bềnh bồng trên dòng Hương. Từ sự việc này, nhà thơ tiếp tục thuật chuyện quá khứ nhằm giải thích về xuất xứ của bức thư tuyệt tình đẫm nước mắt ở trên: “Nửa năm về trước, một đêm thanh/ Sóng nước Hương giang dợn sóng tình/ Câu chuyện nước non thừa gắn bó/ Trước thuyền trăng bạc rọi đầu xanh”. Trên cơ sở thuật chuyện như vậy, nhà thơ bộc lộ cảm xúc bằng rất nhiều câu hỏi đầy trăn trở về duyên kiếp bạc bẽo của con người: “Duyên xưa sao khéo đượm đà/ Mà nay tình lại phôi pha cõi lòng?”, “Ai gieo thơ xuống mặt sông/ Phó cho gió đẩy với dòng nước đưa?/ Biết ai mà hỏi bây giờ?/ Dải Trường giang vẫn lờ đờ về đông…”. Bài thơ Trên sông Hương của Thái Can cũng là một liên hoàn về các lớp chuyện học sinh đi đò qua sông Hương. Cụ thể, đó là cảnh tan trường giữa khung cảnh mùa xuân êm đềm, hay khi mùa hè oi bức: “Tan học, cùng ra về/ Dắt tay, cười hả hê/ Áo quần xanh, đỏ, tím/ Phấp phới bên lề đường”; “Mùa hè, trời nóng nực/ Các em muốn rửa chân…”. Thơ ngũ ngôn nhịp ngắn, với lối kể, tả theo trình tự diễn biến sự việc như vừa thuật rất phù hợp với tâm lí người đọc, nhất là thiếu nhi.
3.2. Hình thức đối thoại, tự tình cũng được các tác giả sử dụng hiệu quả, góp phần làm nên thành công chung cho thơ sông Hương 1900 - 1945. Về đối thoại, tiêu biểu là bài Tiếng hát sông Hương của Tố Hữu. Nếu ở đoạn hai là lời cô gái sông Hương kể lể nỗi niềm thân phận, đặc biệt đắn đót bi quan về khả năng giải thoát: “Khi mô vô bến rời dòng dâm ô?”, “Thuyền em rách nát còn lành được không?”, thì ở đoạn cuối là lời đáp của nhà thơ với một hứa hẹn về tương lai tươi sáng: “Răng không, cô gái trên sông/ Ngày mai cô sẽ từ trong tới ngoài…”. Hình thức đối thoại vốn phổ biến trong loại hình văn chương tự sự, có chức năng tham gia khắc họa tính cách nhân vật, thể hiện chủ đề tư tưởng tác phẩm. Trong thơ, cụ thể là Tiếng hát sông Hương, hình thức này vừa giúp bộc lộ thế giới nội tâm nhân vật, vừa truyền gửi thông điệp, niềm tin về cuộc sống thay đổi của nhà thơ. Với hình thức này, Tố Hữu đã tạo ra được sự khác biệt nhất định so với những tác giả còn lại trong hệ thống thơ về đề tài sông Hương nửa đầu thế kỉ XX.
Ở bài Đêm khuya tự tình với sông Hương, Hàn Mặc Tử lại chọn hình thức “tự tình”, giãi bày tâm sự qua hàng loạt câu hỏi tự vấn như: “Vì ai lắm nỗi chứa chan/ Hay còn đợi khách quá giang một lần?”, “Vì đâu nước chảy lững lờ/ Hay cho thế sự cuộc cờ chiêm bao?”… Bài thơ này của Hàn Mặc Tử khá gần gũi với Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), Chinh phụ ngâm khúc (bản dịch)… không chỉ về hình thức song thất lục bát mà còn ở cách thức trữ tình giãi bày, tự vấn, trĩu một nỗi niềm hoài niệm quá khứ. Phải chăng hoài niệm trong bài thơ này có ẩn chứa tình cảm yêu nước của nhà thơ Hàn Mặc Tử? Suy đoán này một phần dựa trên mục đích sáng tác của tác giả: “Kính tặng cụ Phan Sào Nam”.
Tóm lại, thơ sông Hương nửa đầu thế kỉ XX nằm trong hệ thống chung của thơ ca Việt Nam thời kì hiện đại hóa. Vì thế, hầu hết các tác phẩm đều được sáng tác theo nguyên tắc thẩm mỹ hiện đại. Mỗi một nhà thơ đều có ý thức tự mình tìm lối đi riêng nhằm tạo nên những thi phẩm độc đáo, hấp dẫn. Cố nhiên, thơ sông Hương nửa đầu thế kỉ XX không hoàn toàn thoát li thơ ca trung đại song diện mạo đã mới, trẻ trung và giàu cá tính sáng tạo hơn. Sự thay đổi như vậy không chỉ có ý nghĩa với thành tựu của dòng thơ viết về sông Hương mà còn với cả văn chương xứ Huế nói chung ở cả những chặng đường phát triển về sau.
L.N.K
(TCSH422/04-2024)
---------------------
1 Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ai đã đặt tên cho dòng sông, https://tuoitre.vn/ai-da-dat-ten-cho-dong-song-290231. htm, cập nhật ngày 29/11/2008.
2 Hoài Thanh - Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam (tái bản), Nxb. Văn học, Hà Nội, 2016.
3 Hoài Thanh - Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, Sđd.
Tải mã QRCode
PHONG LÊBây giờ, sau 60 năm - với bao là biến động, phát triển theo gia tốc lớn của lịch sử trong thế kỷ XX - từ một nước còn bị nô lệ, rên xiết dưới hai tầng xiềng xích Pháp-Nhật đã vùng dậy làm một cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại, rồi tiến hành hai cuộc kháng chiến trong suốt 30 năm, đi tới thống nhất và phát triển đất nước theo định hướng mới của chủ nghĩa xã hội, và đang triển khai một cuộc hội nhập lớn với nhân loại; - bây giờ, sau bao biến thiên ấy mà nhìn lại Đề cương về văn hoá Việt Nam năm 1943(1), quả không khó khăn, thậm chí là dễ thấy những mặt bất cập của Đề cương... trong nhìn nhận và đánh giá lịch sử dân tộc và văn hoá dân tộc, từ quá khứ đến hiện tại (ở thời điểm 1943); và nhìn rộng ra thế giới, trong cục diện sự phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại; và gắn với nó, văn hoá, văn chương - học thuật cũng đang chuyển sang giai đoạn Hiện đại và Hậu hiện đại...
TƯƠNG LAITrung thực là phẩm chất hàng đầu của một người dám tự nhận mình là nhà khoa học. Mà thật ra, đâu chỉ nhà khoa học mới cần đến phẩm chất ấy, nhà chính trị, nhà kinh tế, nhà văn hoá... và bất cứ là "nhà" gì đi chăng nữa, trước hết phải là một con người biết tự trọng để không làm những việc khuất tất, không nói dối để cho mình phải hổ thẹn với chính mình. Đấy là trường hợp được vận dụng cho những người chưa bị đứt "dây thần kinh xấu hổ", chứ khi đã đứt mất cái đó rồi, thì sự cắn rứt lương tâm cũng không còn, lấy đâu ra sự tự phản tỉnh để mà còn biết xấu hổ. Mà trò đời, "đã trót thì phải trét", đã nói dối thì rồi cứ phải nói dối quanh, vì "dại rồi còn biết khôn làm sao đây".
MÃ GIANG LÂNVăn học tồn tại được nhiều khi phụ thuộc vào độc giả. Độc giả tiếp nhận tác phẩm như thế nào? Tiếp nhận và truyền đạt cho người khác. Có khi tiếp nhận rồi nhưng lại rất khó truyền đạt. Trường hợp này thường diễn ra với tác phẩm thơ. Thực ra tiếp nhận là một quá trình. Mỗi lần đọc là một lần tiếp nhận, phát hiện.
HÀ VĂN LƯỠNGTrong dòng chảy của văn học Nga thế kỷ XX, bộ phận văn học Nga ở hải ngoại chiếm một vị trí nhất định, tạo nên sự thống nhất, đa dạng của thế kỷ văn học này (bao gồm các mảng: văn học đầu thế kỷ, văn học thời kỳ Xô Viết, văn học Nga ở hải ngoại và văn học Nga hậu Xô Viết). Nhưng việc nhận chân những giá trị của mảng văn học này với tư cách là một bộ phận của văn học Nga thế kỷ XX thì dường như diễn ra quá chậm (mãi đến những thập niên 70, 80 trở đi của thế kỷ XX) và phức tạp, thậm chí có ý kiến đối lập nhau.
TRẦN THANH MẠILTS: Nhà văn Trần Thanh Mại (1908-1965) là người con xứ Huế. Tên ông đã được đặt cho một con đường ở đây và một con đường ở thành phố Hồ Chí Minh. Trần Thanh Mại toàn tập (ba tập) cũng đã được Nhà xuất bản Văn học phát hành năm 2004.Vừa rồi, nhà văn Hồng Diệu, trong dịp vào thành phố Hồ Chí Minh dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Trần Thanh Mại, đã tìm thấy trang di cảo lưu tại gia đình. Bài nghiên cứu dưới đây, do chính nhà văn Trần Thanh Mại viết tay, có nhiều chỗ cắt dán, thêm bớt, hoặc mờ. Nhà văn Hồng Diệu đã khôi phục lại bài viết, và gửi cho Sông Hương. Chúng tôi xin cám ơn nhà văn Hồng Diệu và trân trọng giới thiệu bài này cùng bạn đọc.S.H
TRẦN HUYỀN SÂMLý luận văn học và phê bình văn học là những khái niệm đã được xác định. Đó là hai thuật ngữ chỉ hai phân môn trong Khoa nghiên cứu văn học. Mỗi khi khái niệm đã được xác định, tức là chúng đã có đặc trưng riêng, phạm trù riêng. Và vì thế, mục đích và ý nghĩa của nó cũng rất riêng.
TRẦN THÁI HỌCCó lẽ chưa bao giờ các vấn đề cơ bản của lý luận văn nghệ lại được đưa lên diễn đàn một cách công khai và dân chủ như khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Vấn đề tuyên truyền trong nghệ thuật tuy chưa nêu thành một mục riêng để thảo luận, nhưng ở nhiều bài viết và hội nghị, chúng ta thấy vẫn thường được nhắc tới.
NGUYỄN TRỌNG TẠO...Một câu ngạn ngữ Pháp nói rằng: “Khen đúng là bạn, chê đúng là thầy”. Câu ngạn ngữ này đúng trong mọi trường hợp, và riêng với văn học, Hoài Thanh còn vận thêm rằng: “Khen đúng là bạn của nhà văn, chê đúng là thầy của nhà văn”...
BẢO CHI (lược thuật)Từ chiều 13 đến chiều 15-8-2003, Hội nghị Lý luận – Phê bình văn học (LL-PBVH) toàn quốc do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức đã diễn ra tại khu nghỉ mát Tam Đảo có độ cao 1.000 mét và nhiệt độ lý tưởng 23oc. Đây là hội nghị nhìn lại công tác LL-PBVH 28 năm qua kể từ ngày đất nước thống nhất và sau 54 năm Hội nghị tranh luận Văn nghệ tại Việt Bắc (1949). Gần 200 nhà LL-PB, nhà văn, nhà thơ, nhà báo và khách mời họp mặt ở đây đã làm nóng lên chút đỉnh không khí ôn hoà của xứ lạnh triền miên...
ĐỖ LAI THÚY Văn là người (Buffon)Cuốn sách thứ hai của phê bình văn học Việt Nam, sau Phê bình và cảo luận (1933) của Thiếu Sơn, thuộc về Trần Thanh Mại (1911 - 1965): Trông dòng sông Vị (1936). Và, mặc dù đứng thứ hai, nhưng cuốn sách lại mở đầu cho một phương pháp phê bình văn học mới: phê bình tiểu sử học.
ĐẶNG TIẾNThuật ngữ Thi Học dùng ở đây để biểu đạt những kiến thức, suy nghĩ về Thơ, qua nhiều dạng thức và trong quá trình của nó. Chữ Pháp là Poétique, hiểu theo nghĩa hẹp và cổ điển, áp dụng chủ yếu vào văn vần. Dùng theo nghĩa rộng và hiện đại, theo quan điểm của Valéry, được Jakobson phát triển về sau, từ Poétique được dịch là Thi Pháp, chỉ chức năng thẩm mỹ của ngôn từ, và nới rộng ra những hệ thống ký hiệu khác, là lý thuyết về tính nghệ thuật nói chung. Thi Học, giới hạn trong phạm vi thi ca, là một bộ phận nhỏ của Thi Pháp.
TRẦN CAO SƠNTriều Nguyễn tồn tại gần 150 năm, kể từ khi Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế với niên hiệu Gia Long - năm1802, tạo dựng một đế chế tập quyền trên toàn bộ lãnh thổ mà trước đó chưa hề có. Trải qua một thế kỷ rưỡi tồn tại, vinh hoa và tủi nhục, Triều đại Nguyễn là một thực thể cấu thành trong lịch sử Đại Việt. Những cái do triều đình Nhà Nguyễn mang lại cũng rất có ý nghĩa, đó là chấm dứt cuộc nội chiến, tranh giành quyền lực, xương trắng máu đào liên miên mấy thế kỷ, kiến tạo bộ máy quản lý hành chính trung ương tập quyền thống nhất mà Quang Trung - Nguyễn Huệ đã dày công vun đắp gây dựng trước đó. Dân tộc đã phải trải qua những năm tháng bi hùng với nhiều điều nuối tiếc, đáng bàn đáng nói ngay ở chính hôm nay. Song lịch sử là lịch sử, đó là một hiện thực khách quan.
TRẦN HUYỀN SÂMNếu nghệ thuật là một sự ngạc nhiên thì chính tiểu thuyết Thập giá giữa rừng sâu là sự minh định rõ nhất cho điều này. Tôi bàng hoàng nhận ra rằng, luận thuyết: con người cao quý và có tình hơn động vật đã không hoàn toàn đúng như lâu nay chúng ta vẫn tin tưởng một cách hồn nhiên. Con người có nguy cơ sa xuống hàng thú vật, thậm chí không bằng thú vật, nếu không ý thức được giá trị đích thực của Con Người với cái tên viết hoa của nó. Phải chăng, đây chính là lời nói tối hậu với con người, về con người của tác phẩm này?
HOÀNG NGỌC HIẾN ...Từ những nguồn khác nhau: đạo đức học, mỹ học, triết học xã hội-chính trị, triết học xã hội-văn hoá... cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình văn học là nỗ lực vượt lên trên những thành kiến và định kiến hẹp hòi trong sinh hoạt cũng như trong học thuật. Những thành kiến, định kiến này có khi lại được xem như những điều hiển nhiên. Mà đã là “hiển nhiên” thì khỏi phải bàn. Đây cũng là một thói quen khá phổ biến trong nhân loại. Cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình có khi bắt nguồn từ suy nghĩ về chính những điều “hiển nhiên” như vậy...
THÁI DOÃN HIỂUVào đời, Lưu Quang Vũ bắt đầu làm thơ, viết truyện, rồi dừng lại nơi kịch. Ở thể loại nào, tài năng của Vũ cũng in dấu ấn đậm đà làm cho bạn đọc cả nước đi từ ngạc nhiên đến sửng sốt. Thơ Lưu Quang Vũ một thời được lớp trẻ say sưa chép và thuộc. Kịch Lưu Quang Vũ một thời gần như thống trị sân khấu cả nước.
TRẦN THANH ĐẠMTrong lịch sử nước ta cũng như nhiều nước khác, thời cổ - trung đại cũng như thời cận - hiện đại, mỗi khi một quốc gia, dân tộc bị xâm lược và chinh phục bởi các thế lực bên ngoài thì trong nước bao giờ cũng phát sinh hai lực lượng: một lực lượng tìm cách kháng cự lại nạn ngoại xâm và một lực lượng khác đứng ra hợp tác với kẻ ngoại xâm.
ĐỖ LAI THUÝLTS: Trong số tháng 5-2003, Sông Hương đã dành một số trang để anh em văn nghệ sĩ Huế "tưởng niệm" nhà văn Nguyễn Đình Thi vừa qua đời. Song, đấy chỉ mới là việc nghĩa.Là một cây đại thụ của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam, Nguyễn Đình Thi toả bóng trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật. Bằng chứng qua các bài viết về ông sau đây, Sông Hương xin trân trọng dành thêm trang để giới thiệu sâu hơn, có hệ thống hơn về Nguyễn Đình Thi cùng bạn đọc.
ĐẶNG TIẾN…Nguyễn Đình Thi quê quán Hà Nội, nhưng sinh tại Luang Prabang, Lào, ngày 20/12/1924. Từ 1931 theo gia đình về nước, học tại Hải Phòng, Hà Nội. Năm 1941 tham gia Thanh Niên cưú quốc, 1943 tham gia Văn hóa cứu quốc, bị Pháp bắt nhiều lần. Năm 1945, tham dự Quốc Dân Đại hội Tân Trào, vào Ủy ban Giải phóng Dân tộc. Năm 1946, là đại biểu Quốc hội trẻ nhất, làm Ủy viên Thường trực Quốc hội, khóa I…
HỒ THẾ HÀ Hai mươi lăm năm thơ Huế (1975 - 2000) là một chặng đường không dài, nhưng nó diễn ra trong một bối cảnh lịch sử - thi ca đầy phức tạp. Cuộc sống hàng ngày đặt ra cho thể loại những yêu cầu mới, mà thơ ca phải làm tròn sứ mệnh cao cả với tư cách là một hoạt động nhận thức nhạy bén nhất. Những khó khăn là chuyện đương nhiên, nhưng cũng phải thấy rằng bí quyết sinh tồn của chính thể loại cũng không chịu bó tay. Hơn nữa, đã đặt ra yêu cầu thì chính cuộc sống cũng đã chuẩn bị những tiền đề để thực hiện. Nếu không, mối quan hệ này bị phá vỡ.
JAMES REEVESGần như điều mà tôi hoặc bất kỳ nhà văn nào khác có thể nói về một bài thơ đều giống nhau khi nêu ra ấn tượng về điều gì đấy được in trên giấy. Tôi muốn nhấn mạnh rằng đây không phải là toàn bộ sự thật. Việc in trên giấy thực ra là một bài thơ gián tiếp. Sẽ dễ dàng thấy điều này nếu chúng ta đang nói về hội hoạ hoặc điêu khắc.