Trần Ninh Hồ - Thảo Vi - Mai Ngọc Thanh - Ngàn Thương - Từ Quốc Hoài - Nguyễn Phước Hải Trung - Kiều Vượng
"Mùa xuân" - đồ họa của Hà Văn Chước
TRẦN NINH HỒ
Ngộ nhận
Những câu thơ muốn cháy đến chân trời
Nhưng khi gặp những chân trời không có gì để cháy
Nó trở về thiêu đốt chính tôi
Còn tôi thì lại nghĩ rằng tôi đã dám tự thiêu vì nó!
Cho đến khi
Tôi chẳng có điều gì đáng kể là buồn đâu
và cũng chẳng có kẻ điên rồ nào đến chúc tôi ngày Tết:
Từ nay anh sẽ được nhiều điều buồn!
Và cứ thế tôi tin tưởng sống
Cho đến khi nhận ra
Đời cần vui như đã cần... buồn!
THẢO VI
Đò ngang
Đã quen với tiếng gọi đò
Đẩy thuyền sang vẫn ngẩn ngơ giữa dòng
Quàng tay thắt giải lưng ong
Mái chèo khua vạch trên sông vệt buồn
Qua thì về sợ cô đơn
Mà không qua... lỡ người thương đợi đò
Đôi bờ day dứt gọi thưa
Bóng chim tăm cá, người chưa thấy người
Cũng vì một tiếng "Đò ơi!"
Một lần thảng thốt, một đời lênh đênh
Trời xe duyên bỏ quên mình
Nên đò ngang cứ nặng tình không vơi
Nhủ mình, thôi, cũng đành thôi
Mà bờ kia vẫn "Đò ơi!" cháy lòng.
MAI NGỌC THANH
Những khi ấy
Tôi từng theo bè xuôi với các bạn thợ rừng
Sông Mã hỗn sông Luồng thì dữ
Cả mảng bè nặng dài gỗ nứa
Thành trò chơi của nước phăng phăng
Phút thảnh thơi hiếm quá
Nào là trang Ma trước lúc vượt thường thắp hương cầu
Vẫn có lúc gãy sào và người không về với bến
Nào là thác Quỷ lố nhố đá đầu lâu
Đá tủa dựng những hàm răng quái dị
Một chút run tay là bè tan, người mất hút vực sâu
Những gian hiểm ngoái nhìn, còn dựng tóc
Một lần xuôi má hóp tựa ông già
Cũng từ đấy tôi không vô tâm nữa
Khi đứng trước cánh cửa tủ phòng mình
Trước mặt bàn vẫn thường ngày đặt trang giấy viết
Những vân gỗ
Hiện lại dáng dòng sông cuộn xiết
Và thác ghềnh
Và vực xoáy sâu
Những khi ấy lòng tôi lại áy náy
Các bạn thợ rừng giờ đang ở đâu
Sông Mã hỗn sông Luồng thì dữ...
NGÀN THƯƠNG
Mẹ
Mẹ biền biệt giữa hai đầu mưa nắng
Con rưng rưng tìm dáng mẹ bên trời
Nhưng bóng mẹ đã nhạt nhòa sương khói
Nẻo con về từ đó hóa mồ - côi...
Huế 13.10.92
TỪ QUỐC HOÀI
Du khách
Im lìm dưới khung trời nhiễm bụi
những cột đèn mất ngủ
thành phố bốn mùa hờn dỗi
kết hôn, ly hôn, tất bật sinh nở, đợi chờ...
anh hát bâng quơ
tóc em ngắn dài ngày tháng
gót mòn đường trăng
lướt qua hàng cây son phấn
bàn tay nụ hôn nước hoa
lướt qua, lướt qua...
giấc mơ rách bươm tiền bạc
cỏ hoa quen mùi thịt da
em không quen ngủ một mình
không quen cả nhịn đói
em không thể ngủ dậy mà không soi gương
anh bước nhanh khỏi hàng cây son phấn
vứt mẩu tàn thuốc vào đêm
rất lâu trong bóng tối lãng quên
còn lập lòe ngôi sao lạc.
NGUYỄN PHƯỚC HẢI TRUNG
Nơi gặp em
Nơi gặp em là đường rẽ về ngõ cụt
Ta vu vơ úp mặt với gió mềm
Tay quờ quạng tìm điều đã mất
Giấc mơ lăn long lóc trên thềm
Nơi ta đến giờ hoang vắng lạ
Cọng cỏ ngao du cuối phố mịt mờ
Em rong chơi trong tàng hình đêm tối
Mảnh áo mềm đẫm gió bạc phơ
Nơi ta đến định làm thơ tặng gió
Giờ đã thành chứng tích ngàn năm
Vầng trăng kia biết mờ hay tỏ
Cúi xuống đời hôn cõi ăn năn
Nơi ta đến dường như mông lung
Em đây rồi vẫn thấy nghìn trùng
Ta lại về ngõ hoang cụt lối
Trái tim đau vẫn thắp lửa bập bùng.
KIỀU VƯỢNG
Chia
Tôi sinh ra để sẻ chia
Trời xanh chim hót, rừng khuya nai đùa
Vào đêm trăng mới làm vua
Mặt trời chỉ sáng để vừa nhận nhau
Thân này chẳng thể chia đâu
Nhưng hình như cũng từ lâu chia mà
Lòng chia trăm nẻo đường xa
Vui buồn đắng ngọt chỉ là mình thôi
Một ngôi trường ở ven đồi
Một góc rừng ở chân trời mù sương
Lênh đênh sóng gió khôn lường
Nát tan từ một con đường xa xăm
Thân này còn được bao lăm
Mà định chia cả lỗi lầm cho nhau
Ước chi có phép nhiệm mầu
Để tôi chia mọi khổ đau thật đều
Em đừng trách nhé em yêu
Lòng tôi chẳng thể chia nhiều phần em.
(TCSH57/09&10-1993)
Tải mã QRCode
PHẠM TẤN HẦU
Tình yêu luôn là một huyền thoại và lịch sử kể qua câu chuyện Huyền Trân.
Và giống như một người mù
Tôi trở lại quê hương dưới mùi thơm của hoa nhài.
P.NERUDA
NGUYỄN PHÚC VĨNH BA
Lời người viết: Biết tin hiền thê của người bạn vong niên qua đời quá muộn, ghé thăm và nghe bạn than thở nỗi lòng, bỉ nhân không cầm được lòng xúc động. Thấy ông lão tám mươi rưng rưng khóc vợ, kể lể bao vui buồn ngày còn đủ vợ chồng, bỉ nhân xao xuyến vô cùng. Thay bạn, bỉ nhân viết quấy quá đôi hàng văn tế, chỉ mong nói hộ bạn nỗi niềm đau khổ đó. Than ôi! Chữ nghĩa cũng chỉ dành cho người sống đọc. Còn người đã khuất thì liệu có biết thấu chăng?
HÀ TÚC TRÍ
Đinh Cường - Nguyễn Ngọc Phú - Tần Hoài Dạ Vũ - Châu Thu Hà - Vi Thùy Linh - Đinh Thị Như Thúy - Nguyễn Nhã Tiên - Hà Duy Phương - Chử Thu Hằng - Thùy Nhiên Trương Hà
NGUYÊN QUÂN
VŨ THỊ MAI OANH
(Viết cho ai yêu thiên nhiên Nhật Bản)
HẢI HẠC PHAN
NGUYỄN TRỌNG TẠO
Khaly Chàm - Phan Hoàng - Trần Hữu Dũng - Phan Hoàng Phương - Vũ Thiên Kiều
KHẾ IÊM
Lynh Bacardi, tên thật là Phạm Thị Thùy Linh, sinh ngày 03/04/1981. Làm thơ, viết văn, đồng thời là một dịch giả chưa từng học qua trường lớp chính quy nào. Đến với thơ văn từ năm 2003, Lynh Bacardi không ngừng nỗ lực cách tân và đã tạo cho mình một lối viết đầy bản sắc trong thế hệ trẻ luôn có ý hướng cách tân hiện nay. Thế mạnh của Lynh chính là sự vượt thoát trong tư tưởng, dám bội ước với lối thi pháp truyền thống và nói lên được những khát vọng của giới nữ.
XUÂN CAO
VĂN CAO
Tần Hoài Dạ Vũ - Nguyễn Thanh Mừng - Phạm Nguyên Tường - Nguyễn Nguyên An - Lãng Hiển Xuân - Trần Tịnh Yên - Nhất Lâm - Nguyễn Đông Nhật - Trương Văn Nhân - Miên Di - Nguyễn Lãm Thắng - Huỳnh Thúy Kiều - Ngàn Thương - Hoàng Cát - Đức Sơn - Lệ Thu - Hồng Vinh - Ngô Thiên Thu - Lưu Ly - Ngô Công Tấn - Nguyễn Minh Khiêm - Nguyễn Khắc Thạch - Nguyễn Thường Kham - Từ Hoài Tấn - Nguyên Tiêu - Phan Lệ Dung - Phan Trung Thành - Tôn Phong - Trần Áng Sơn - Lê Ngã Lễ - Trần Vạn Giã - Từ Nguyễn
ĐẶNG NHẬT TRUNG
HOÀNG NGỌC QUÝ
NGUYỄN MAN KIM
NGÔ ĐÌNH HẢI
Đinh Thu - Nguyễn Văn Thanh - P.n.thường Đoan - Trần Nhuận Minh - Trọng Hướng - Lâm Anh - Đoàn Mạnh Phương - Đỗ Hàn - Trần Phương Kỳ - Nguyễn Văn Quang - Nguyễn Loan - Triệu Nguyên Phong - Kiều Trung Phương - Nguyễn Thiền Nghi - Hồ Đắc Thiếu Anh - Vạn Lộc - Nguyễn Đạt - Trường Thắng - Lê Nguyễn - Trịnh Bửu Hoài
LTS: Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 có ý nghĩa lớn là làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ”, đánh bại cố gắng quân sự cao nhất của đế quốc Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, làm lung lay ý chí xâm lược buộc Mỹ phải “xuống thang chiến tranh”, tạo ra bước ngoặt có ý nghĩa quyết định của cuộc kháng chiến.