VĨNH QUYỀN
Rien Ne Pese Tant Que Un Secret
Không Gì Trĩu Nặng Hơn Một Điều Thầm Kín
Minh họa: Nguyễn Thiện Đức
Chiếc Volkswagen xám khói rền rĩ như có thể đột tử vào mỗi xế chiều thứ Bảy, khi leo con dốc hẹp mở ra lắm nẻo quanh co dưới tán rừng thông, dẫn đến ngôi nhà gạch đỏ ấm áp của mẹ tôi, là kiến trúc duy nhất và chỉ có thể trông thấy sau vòng cung cuối đường. Dẫu sao, nơi ngoại ô hoang sơ này “con bọ” đỡ cô thân hơn khi len dòng ô tô đời mới trong thành phố lớn thứ ba của nước Pháp, Lyon. Cô giúp việc mở cửa chính đón tôi, nhưng tôi chưa vào nhà thăm mẹ ngay mà thả bộ trở ra bên ngoài cổng, nơi đặt hòm thư chế tác từ một lóng gỗ thông nguyên vỏ. Từ nhiều năm trước, khi mẹ tôi chọn lối sống ẩn dật, tôi đã đại diện pháp lý cho mẹ, dùng địa chỉ căn hộ của tôi để tiện xử lý sự vụ hành chính, kể cả thư tín, là thứ dần triệt tiêu sau chừng một năm, và vì thế, hòm thư này cũng ẩn dật cùng chủ nhân, tồn tại trong mưa nắng quên lãng, như chỉ để bảo lưu giá trị tượng trưng một chi tiết của bức tranh toàn cảnh ngôi nhà, chờ đến ngày tự đổ sụp vào bóng mình.
Chuyện là gần tháng nay, sau khi phát hiện vợ chồng khướu Cutia nương vào mái che hòm thư để xây tổ đón mùa sinh sản, tôi có niềm vui mới khi về nhà mẹ: ngồi xuống tảng đá bên đường, cách tổ chim chừng mươi bước chân, thư thả hút thuốc ngắm đôi chim cần mẫn gom lá thông khô lót ổ, tuần sau chỉ thấy chim trống bay đi bay về mớm mồi nuôi chim mái mải mê thiên chức ấp trứng. Còn ngay lúc này, chúng lại bay đôi và tôi có thể nghe tiếng kêu chiêm-chíp của chim non hóng lên cung trời xanh thiết tha. Nảy ý không định trước, tôi khẽ bước đến đặt lên mái che hòm thư một trái hồng chín nẫu, làm quà tặng nhà Cutia. Bỗng, qua kẽ vênh của nắp hòm tôi thấy có thư bên trong. Ngạc nhiên, tôi mở ra, là một phong thư mốc meo. Hẳn nó đã chờ đợi tôi qua một mùa đông. Chờ tôi, bởi tên người nhận là tên tôi: Denis Tôn Thất.
*
“Ngoài dấu bưu điện thành phố Huế từ miền Trung nước Việt, tịnh không thông tin về người gửi trên bì cũng như trong thư, điều khiếm nhã như vậy hẳn khiến tiến sĩ đang thầm nghĩ có nên đọc hay không. Xin nói ngay cho nhẹ lòng đôi bề: Đây chẳng phải thư tống tiền, càng không thể khủng bố. Vậy, tại sao ẩn danh? Ôi, ước gì có thể sẻ chia nguồn cơn đã dựng nên cái quy ước bất thành văn mà tôi là kẻ phải tuân thủ lâu nay, với tư cách và lời hứa danh dự một nam tử. Nhưng thôi, ẩn danh hay hiển danh không ảnh hưởng nhiều đến nội dung hay mục đích lá thư ngỏ về một vấn đề văn hóa - lịch sử cụ thể. Là tôi nói đến thiên du khảo của tiến sĩ xuất bản trên niên san Viện Viễn Đông Bác cổ Paris, cũng là nơi tiến sĩ vừa kết thúc tốt đẹp một năm thực tập, như trong lời giới thiệu trang trọng của tòa soạn.
Tôi đọc liên tục 90 trang in khổ lớn với tâm thế bị cuốn theo chuỗi xem-nghĩ-chạm-cảm lạ hóa, đầy cá tính về một nền văn minh cổ xưa xứ Đông Dương mà tôi từng biết. Sự khác biệt ấy còn được trình bày bởi văn phong bút ký khoa học trẻ trung, ngẫu hứng mở ra những cú rơi tự do vào chiêm nghiệm sâu lắng qua độc thoại, tự vấn rất phóng túng, nghĩa là rất tùy bút. Tôi chưa thể đọc thêm trang nào trong hơn 500 trang còn lại của niên san, bởi từng trang của thiên du khảo bằng cách nào đó đã neo vào tôi, đầy chật ám ảnh. Rồi tôi đọc lại, đọc chậm, nghiền ngẫm, kiểm chứng để càng yêu thích pha chút ganh tỵ về điều kiện, cơ hội giữa hai thế hệ, hai đất nước, và tất nhiên cả những bất đồng. Giờ đây, để nối dài hạnh phúc sự đọc, tôi viết đôi dòng gửi tiến sĩ, như một phản hồi, phải, phản hồi chứ không phản biện. Không nhớ lần cuối tôi viết tiếng Pháp lúc nào nữa, tiến sĩ bỏ quá cho những thô vụng ngôn từ đâu đó.
Phản hồi của tôi thu gọn vào mỗi hình tượng thuộc thế giới tự nhiên trong thiên du khảo: Cây ngô đồng. Tại sao ư? Vì thỉnh thoảng nó lại mọc lên trên dọc dài hành trình chuyển hóa nhận thức của tôi về lịch sử - văn hóa dân tộc. Chúng ta đều biết Cửu đỉnh được đúc dưới triều Minh Mệnh, gồm chín đỉnh đồng lớn bố trí trước sân Thế miếu trong Hoàng thành, mỗi đỉnh được đặt tên theo thụy hiệu một vua triều Nguyễn, khởi từ Cao đỉnh tượng trưng Thế Tổ Cao Hoàng Đế Gia Long. Trên mỗi đỉnh chạm nổi 17 hình tượng tiêu biểu thuộc các lĩnh vực thiên văn, địa lý, sản vật quý và vũ khí uy lực của nước Việt đương thời. Đọc thiên du khảo, tôi dừng lại khá lâu ở trang mà tôi hình dung tiến sĩ dừng chân đủ lâu trước Nhân đỉnh, đỉnh dành cho chính vua Minh Mệnh, Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế, vị chỉ huy trực tiếp trong hai năm liền thiết kế cũng như chế tác Cửu đỉnh, từ lập đông 1835 đến cuối xuân 1837, nhìn chăm chú vào một hình chạm trổ trên ấy, để ghim câu hỏi vào bài du khảo: “Trong hơn mười nghìn loài thực vật Việt Nam thời ấy, tại sao ngô đồng?”. Nhưng, bất ngờ, tiến sĩ buông lửng lời kiến giải.
Sau khi tôi đỗ tú tài, chuẩn bị du học, ba tôi kiêm luôn vai gia sư, luyện môn viết Pháp văn cho tôi. Có lần, ông chọn một đề luận rộng và khó, “Ảnh hưởng Trung Hoa trong văn chương Việt”. Trong bài, tôi có lời than: “Thi nhân Việt đời trước sử dụng nhiều thi ảnh ước lệ từ nguồn Trung Hoa, ví dụ “tuyết rơi” hay “ngô đồng rụng”, bất chấp thực tế tự nhiên Việt Nam không có tuyết, cũng chẳng có ngô đồng. Ấy là tôi nhớ những ý kiến từng nghe thấy đâu đó, chứ vốn đọc thơ Hán-Nôm của tôi lúc ấy bằng không. Chiều cuối tuần trả bài, chỉ thấy ba tôi sửa dàn ý và tất nhiên dành nhiều thời gian cho văn phạm, món tôi khá yếu. Xong, theo gợi ý của ba tôi, tôi đẩy xe lăn đưa ông vào Đại Nội dạo chơi. Ba tôi bất chợt hỏi tôi đã thấy cây ngô đồng chưa. Tôi lắc đầu. Lát sau, chúng tôi dừng trước một gốc cổ thụ. “Ngô đồng đó”, ba tôi nói. Cây cao gần 20 mét, vào thời điểm phô diễn vẻ đẹp bản thân: trút sạch lá, trổ hết hoa, những chùm hoa tím phớt hồng chi chít đang sáng lên lần cuối trong ánh hoàng hôn và trong sương mỏng. Tôi rời mắt khỏi cây ngô đồng, nhìn ba tôi với nụ cười biết ơn, và hẳn là rạng rỡ. Bỗng nhớ hai câu thơ, loại thơ không học vẫn thuộc, “Ngô đồng nhất diệp lạc, Thiên hạ cộng tri thu”, tôi ngập ngừng: “Ba ơi, có chắc là ngô đồng không? Giờ mới cuối xuân, mà ngô đồng rụng lá ra hoa vào thu?”. Ba tôi vỗ lưng tôi: “Hỏi hay lắm. Ngô đồng con nói là ngô đồng bên Trung Hoa, đã trở thành biểu tượng mùa thu, thu Trung Hoa, có hoa màu vàng, hay vàng điểm trắng. Còn trước mắt con lúc này là ngô đồng do chính vua Minh Mệnh sai người tìm ra tại Trường Sơn nước Việt, có hoa tím hồng nở vào cuối xuân. Cùng một giống cây nhưng khác về sắc hoa và mùa hoa như vậy là do chúng sinh trưởng ở hai vùng khí hậu khác nhau, nhiệt đới và ôn đới”. Niềm vui nước mình cũng có cây ngô đồng không che được nỗi thất vọng về bản thân, tôi nói: “Vậy là con đã sai?”. Lại vỗ lưng tôi, ba tôi nói: “Điều con viết trong bài luận là đúng chứ, bởi từ trước triều Minh Mệnh, ngô đồng Trung Hoa đã sánh vai cùng thông, còn gọi tùng, có tần suất xuất hiện cao trong thơ Việt. Tuy nhiên, cái đúng của con chưa đặt trên nền kiến văn sâu rộng, là thứ đòi hỏi sức đọc và trải nghiệm. Buồn chi, vào tuổi con, ba không viết được như vậy”. Tôi muốn nghe thêm chuyện vua Minh Mệnh và cây ngô đồng Việt, nhưng ba tôi đã nói: “Muộn rồi, về thôi. Bản dịch “Đại Nam nhất thống chí” và “Minh Mệnh chính biên” có trong tủ sách, con tự tìm đọc, sẽ thấy thú vị hơn”.
Vài năm sau, từ Pháp tôi gửi bài biên khảo đăng trên Tao Đàn, tạp chí văn hóa trong nước. Trong đó có đoạn hồi cố chuyện ngô đồng: “Theo “Đại Nam nhất thống chí”, sau một thời gian hân hoan đón nhận hai cây ngô đồng, món quà từ Quảng Đông (Trung Hoa), vốn được cho không hiện hữu ở đất phương nam, vua Minh Mệnh đã sai biền binh mang mẫu lá và hình vẽ cây ngô đồng tỏa vào rừng sâu tìm câu trả lời cho câu hỏi trăn trở của chính ngài: “Vậy Đại Nam ta có ngô đồng không?”. Hóa ra loài cây vương giả đầy cảm hứng thi ca ấy vẫn nghìn năm ẩn tàng giữa ngàn xanh Trường Sơn chờ đợi ngày nước Nam xuất hiện một vị vua có câu tự vấn xưa nay hiếm. Từ đó, nhà vua cho tô điểm cảnh quan kiến trúc cung điện, lăng tẩm bằng giống ngô đồng nội địa. Niềm tự hào không thua kém phương bắc của vua Minh Mệnh còn thể hiện qua việc chạm hình cây ngô đồng phương nam lên Cửu đỉnh”.
Phải nhiều năm sau, khi tóc không còn xanh, và không còn nhớ nghĩ đến bài viết đầu tay ấy nữa, tôi mới có dịp tự vỡ. Rằng cái sự kiến giải “tự hào không thua kém phương bắc” mà tôi đính vào hào khí của vua Minh Mệnh, trong trường hợp ngô đồng, tuy không sai nhưng phiến diện, và thậm chí đắc tội tiền nhân. Chuyến ngược thượng nguồn sông A Vương, tìm nhặt những mảnh ghép cuối cho bức tranh toàn cảnh về một vùng văn hóa Katu, đã dẫn tôi lạc đến một góc rừng, vốn là một trong những “cái nôi” của “cố nhân”. Xa xa, một khóm đại thụ trút sạch lá, phô bật tán hoa sắc hồng tím đặc trưng ngô đồng Việt trên nền xanh dằng dặc rặng Trường Sơn. Người dẫn đường, già làng bản Alê, đứng lặng chờ tôi lắng dịu cơn xúc động, trước khi góp tiếng: “Người Katu từ thế hệ cha tôi trở về trước có thói quen cứ vào tiết xuân thỉnh thoảng lại ngước mắt hóng lên lưng chừng ngọn cao sơn. Các vị vẫn giữ lòng tin truyền đời từ tổ tiên: Rằng chim phượng hoàng rồi sẽ có ngày nương mây mù trở lại, đậu lên khóm ngô đồng ấy. Tục săn máu cúng Giàng cổ xưa ghi nhận điều đó: Khi đàn ông Katu bị đón đường “xin máu” họ sẽ hát bài “lý”: “Buổi sáng ta còn muốn thấy mặt trời mọc đàng đông, Giữa đêm ta còn muốn nghe vợ yêu cười dưới chăn, Trong mơ ta còn muốn thấy phượng hoàng trở lại trên cây ngô đồng, Ta không thể cho ngươi máu!”.
Cảnh giới tuyền lâm hoang dã thời xa vắng sống lại sinh động qua giọng hát “lý” và động tác minh họa của ông già Katu với cây đao dài đi rừng trên tay gân guốc. Tôi bất giác rùng mình. Không vì sợ “xin máu”, mà vì thoảng nghe tiếng đập cánh của lũ phượng hoàng trong mây mù. Yếu tố giấc mơ và loài chim không có thật xuất hiện quá bất ngờ trong lý lẽ từ chối “cho máu” của người đàn ông nơi rẻo cao. Hóa ra, mơ được thấy thời hoàng kim phục dựng cũng là lý do để sống. Tôi vỡ ra. Vua Minh Mệnh cho khắc chạm hình ngô đồng lên Cửu đỉnh như một biểu thị nhắc nhở vua quan triều đình ngày đêm lo nghĩ thực hiện trọng trách kiến tạo thời đại hoàng kim quốc thái dân an, như cây ngô đồng Việt kia không ngừng đau đáu ngóng trông đôi cánh phượng hoàng trở lại…
Tôi rất muốn đi thăm lăng Minh Mệnh, thắp nén hương tạ tội. Nhưng gần hai năm nay tôi không thể tự ra khỏi nhà, mà người nhà thì không ai đồng ý để cho tôi đi đâu nữa. Cảm ơn tiến sĩ đã buông lửng một lời kiến giải trong thiên du khảo, cho tôi khoảng trống tương tác đôi dòng chiêm niệm. Cũng cho tôi cơ hội thực hiện một kết nối một chiều, từ phía tôi”.
*
Trầm giọng, tôi đọc rời từng tiếng “từ - phía - tôi”, rồi ngừng bặt, tạo thanh điệu thay cho dấu chấm hết của lá thư. Ngồi đối diện tôi, bên kia mặt bàn tròn có thể tiếp mười vị khách, mẹ tôi giữ yên tư thế chờ nghe tiếp, hai tay chống cằm, mắt nhìn nghiêng xa xôi về phía mặt trời đang chìm dần sau đỉnh rừng thông với những chùm sáng vàng cam chấp chới chưa tắt hẳn. Tôi chợt hiểu, từ lúc nào đó, mẹ tôi đã không còn tiếp nhận lời đọc của tôi nữa. Gần đây bà dễ tự chìm vào cõi giới khác, ở đâu đó trong chính mình, đáng cho tôi e ngại. Chừng một giờ trước, giữa bữa ăn tối, nhận ra tôi ít trò chuyện, mẹ tôi hỏi về sức khỏe và công việc. Tôi đáp mọi thứ đều ổn. Chưa yên tâm, mẹ tiếp tục thăm dò tình trạng giữa tôi và vợ sắp cưới. Tôi nói cô ấy thực tập ở Ai Cập chưa về, nhưng đã tìm được món quà ưng ý dành cho mẹ, cái nón lá cọ rộng vành dùng khi thăm vườn. Mẹ tôi vui hẳn, tất nhiên không vì quà của con dâu tương lai. Thật ra tôi ít trò chuyện vì mải nghĩ đến lá thư đã đọc trước khi vào nhà, và cân nhắc có nên cho mẹ tôi biết về nó hay không. Là thư gửi tôi, tôi có thể im lặng, vì không muốn bà vướng vào lo nghĩ.
Sau bữa ăn tối, tôi đưa mẹ ra tiểu sảnh hình lục giác dưới mái hiên. Cô giúp việc đã bày cà phê và món tráng miệng. Lúc ấy mẹ tôi lại là người trầm ngâm ít nói. Tôi áy náy vì đã che giấu thứ mà trực giác mách bảo nó ẩn chứa điều liên quan đến mẹ mà tôi chưa thể giải thích. “Mẹ à,” cuối cùng tôi quyết định lên tiếng, khi tách cà phê sắp cạn. “Chiều nay con đã nhặt được một phong thư trong hòm thư cũ nhà mình. Đã đọc qua, chỉ là viết về bài du khảo con xuất bản năm ngoái, nhưng nặc danh, mẹ nghĩ có lạ không?”. Thấy mẹ tôi chưa chạm thấu vấn đề, tôi thêm chi tiết: “Nó được viết và gửi từ Huế, Việt Nam”. Mẹ tôi chợt tỉnh: “Huế? Đọc mẹ nghe”. Tôi vâng lời, và kết cuộc vậy đó, tôi đọc chưa xong lá thư, mẹ tôi đã trượt khỏi thì hiện tại.
“Từ Huế?”, mẹ tôi bất đồ trở lại. Thấy tôi gật đầu, mẹ dồn dập: “Các dấu móc cédille dưới chữ “ç”, và dấu hai chấm tréma trên các con chữ “ï”, “ë”, “ü” đều bị giản lược, đúng không?”. “Sao mẹ biết?”, tôi quá ngạc nhiên. Không trả lời, mẹ tôi quay nhìn ra cổng, giọng căng thẳng: “Là ông ấy!”. Tôi nghiêng người toan nắm lấy tay mẹ và trấn an “đừng sợ, có con đây”, thì mẹ nói trổng: “Trăm phần trăm là ông. Tới già vẫn chưa sửa được thói lười khi đánh máy chữ”. Tôi suýt bật cười khi nghe giọng chê trách mà mẹ tôi dành cho người vắng mặt, tác giả bức thư ngỏ, hẳn cũng là người cha của tôi, người mà gần ba mươi năm nay, mẹ tôi chỉ chia sẻ với tôi đúng mỗi dòng “trích ngang”: “Sinh viên du học đến từ Việt Nam”. Không nỡ làm khó mẹ, tôi bỏ qua giai đoạn hỏi han - xác nhận, mà thẳng vào “chuyện nhà”: “Cái quy ước khiến ông ấy không thể xưng cha với con là do mẹ đặt ra, phải không?”. Mẹ tôi chớp mắt thừa nhận. Cái chớp mắt đẹp khiến tôi nhớ tấm ảnh đen trắng của mẹ thời sinh viên thanh lịch duyên dáng và ngơ ngác. Sau một lúc đắn đo, mẹ tôi tiếp: “Ừ, mẹ đã viết thư báo với ông ấy là mẹ quyết định sinh con, nuôi dạy con ở Pháp mà không yêu cầu ông ấy bên cạnh. Mẹ cũng cho biết sẽ giữ họ Tôn Thất cho con, với điều kiện ông ấy không được chủ động liên lạc với con mà không có sự đồng ý của mẹ. Tôn Thất Long đã cam kết, và đã giữ lời, cho đến khi thư này được gửi đến con”. Tôi chấn động nghe tên cha lần đầu, dẫu qua giọng chế giễu của mẹ. Mất một lát tôi mới có thể phân bua: “Mẹ à, chỉ là thư nặc danh và toàn chuyện văn hóa - lịch sử. Thú thật, con đã xem đó là một trong những bài thuyết giảng thực nghiệm ấn tượng và cảm động mà con từng biết”.
Lườm mắt về phía tôi vẻ dọa dẫm “biết ngay mà, chưa gì cha con nhà ngươi đã bênh nhau”, rồi mẹ tôi trở lại tư thế sầu muộn: hai tay chống cằm nhìn nghiêng về hướng Tây, nơi mặt trời đã khuất phía bên kia bán cầu và bầu trời xanh sẫm đủ cho ngôi sao hôm le lói chớp nháy trên đỉnh rừng thông giờ là khối đen đông đặc. “Con ơi, niềm đam mê nghiên cứu văn hóa - lịch sử đã trao cha con cho mẹ, rồi thứ văn hóa - lịch sử thực tế lại cướp ông ấy khỏi đời mẹ…”. Giọng mẹ yếu ớt, ai oán như cất lên từ bóng tối chung quanh khiến tôi vội đến bên, ôm chặt lấy mẹ, khổ tâm như đứa bé lỡ tay đánh vỡ lọ thủy tinh quý giá nhất đời. Tôi ước gì mình đã không nghĩ ra việc đọc thư của cha, cứ để mẹ tiếp tục giấu tôi về mọi thứ như trước đây. Tôi thấy mình không tìm được lời thỏa đáng có thể an ủi mẹ. Cô giúp việc xuất hiện đúng lúc, cùng tôi dìu mẹ về phòng. Yên ổn dưới chăn ấm được một lát, mẹ bảo tôi hãy đi nghỉ, đừng lo lắng quá. Tôi vâng lời, nhưng vừa đến cửa phòng, mẹ tôi đã gọi giật, vỗ nhẹ tay lên mặt giường ra hiệu tôi đến ngồi bên. “Không gì trĩu nặng hơn nuôi giữ một điều thầm kín trong lòng. Nhưng mẹ cam chịu tất cả để giữ được con bên mẹ. Giờ gánh nặng ấy không còn nữa. Cảm ơn Denis của mẹ, cảm ơn cả lá thư đến từ Việt Nam, không sớm cũng không quá muộn”. Mẹ tôi vươn cánh tay gầy lau nước mắt cho tôi, thì thầm: “Trong tủ, ở kệ dành cho sách đã xuất bản của mẹ, có một sổ tay bìa tím…”.
*
“90 ngày ở xứ sở loài rồng”. Ấy là một nhan đề từ đâu trong đầu tôi bay đậu lên cuốn sổ tay khổ lớn vừa được khẽ khàng gấp lại, đặt ngay ngắn trên bàn. Ngửa cổ hẳn sau lưng ghế, giữ tư thế ấy lâu nhất có thể để tìm chút cân bằng sau một đêm đọc nghiến những trang viết có tuổi đời hơn tôi sáu tháng. Ngòi bút sắt của mẹ khi nắn nót dịu êm, khi xô xéo rách giấy, khi run rẩy hoảng loạn. Tôi đã rưng rưng ở trang cuối. Giọt nước mắt nào cho mẹ, giọt nước mắt nào cho cha, và cho cả ông nội nữa? Chung quy là nước mắt. Nước mắt đứa con hai dòng máu.
Mẹ tôi, nhà văn Annette Bellamy, viết truyện ngắn hư cấu, tất nhiên cuốn ghi chép này ngoại lệ, và được viết trước khi mẹ tôi chọn văn chương làm nghiệp dĩ. Viết vì không thể nói, viết để không phát điên. Không trình tự, không liên kết, chỉ là những gạch đầu dòng được dẫn dắt bởi tâm trạng hoài nhớ, đau đớn, và bất ổn. Dẫu vậy, giờ đây mớ bòng bong ấy là câu chuyện có đầu có đuôi, trong tôi.
Trước tiên hãy gặp Annette, sinh viên văn khoa năm ba. Cô đến Thư viện Sorbonne dự buổi sinh hoạt ngoại khóa chung cho ngành xã hội nhân văn. Người thuyết trình là một giáo sư tiến sĩ, khách mời từ Đại học Bắc Kinh. Khi đề cập hiện tượng vay mượn ngôn ngữ giữa các quốc gia, giáo sư đưa ra vài ví dụ, trong đó “Annam”, danh từ riêng tiếng Pháp, có nguồn gốc chữ Hán, “An Nam”, đầy đủ là “An Nam đô hộ phủ”. Một thanh niên châu Á đứng lên cắt lời giáo sư, tự giới thiệu là Tôn Thất Long, nghiên cứu sinh ngành khảo cổ, xin phát biểu. Đại diện thư viện nhã nhặn từ chối với lý do phần trao đổi được xếp cuối buổi. Nhưng Long đã đáp: “Vì tôi sẽ rời khỏi đây trong chốc lát, xin hãy cho tôi nói một lời thôi, với giáo sư. Rằng, tôi không chấp nhận ai đó gọi đất nước tôi là An Nam, ngay trước mặt tôi. Quốc hiệu nước tôi là Việt Nam”. Mọi người lặng phắc nhìn chàng trai nước Việt bước ra khỏi cửa hội trường. Annette tự dưng bừng tỉnh, cuống quýt đuổi theo, “vì không nỡ để anh ấy một mình như thế”. Họ gặp nhau vậy đó. Sau gần một năm yêu thương quấn quýt, Long ngỏ ý đưa Annette về Việt Nam, trải nghiệm kỳ nghỉ hè đặc biệt. Hiểu anh muốn giới thiệu cô với gia đình, Annette nhận lời.
Thích thú, tò mò nhưng e dè là cảm giác của Annette khi đặt chân vào không gian một vương phủ phương đông thời sa cơ. Vườn cây lưu niên rậm đến thiếu sáng. Sau ngôi nhà lớn thờ phụng tổ tiên là ba dãy nhà phòng liền kề bao quanh hồ sen trăm mét vuông, tất cả đều bằng gỗ nâu thâm u. Khi nhận phòng có cửa sổ nhìn ra sông Hương, Annette suýt reo lên trước mặt mẹ của Long. Tất nhiên lúc đó cô chưa hiểu thế nào là ngủ cùng tiếng ếch nhái ma quái từ bờ sông vọng vào. Âm thanh ấy chưa hẳn khiến Annette ngán ngẫm bằng lời “vo ve” nhắm tới cô của các bà các chị ở khu nhà bếp mỗi khi cô xuất hiện. Và nỗi sợ thật sự của Annette là mỗi dãy nhà dùng chung một toilette. Biết chuyện, Long mang đến phòng cô một va ly lớn, mở ra thấy toàn là bô nhựa dành cho trẻ con, mua ở chợ Đông Ba. Sau đó, thỉnh thoảng người nhà thấy anh xách lồng chim phủ khăn gió, vừa huýt sáo vừa đi ra bến sông. Tuy nhiên, đó chỉ là những chuyện vặt ngày thường.
Một chiều, Annette bắc ghế ngồi ngoài hành lang nhà khách hóng gió sông, vô tình nghe lỏm cuộc luận đàm của cánh đàn ông trong đại gia đình cùng vài thân hữu. Họ nói với nhau bằng tiếng Pháp, Annette toan quay về phòng mình, nhưng câu nói liên quan đến Long đã giữ chân cô: “Từ sự thất bại của phong trào Đông du, chúng ta chuyển hướng, đưa thanh niên sang Pháp du học. Mọi người kỳ vọng vào Long, tiếc là cháu chọn khảo cổ học chứ không phải ngành bá công như đã bàn định”. Long đáp: “Dạ, cháu muốn làm nghiên cứu tại Viện Viễn Đông Bác cổ, rất có ích cho di sản văn hóa nước nhà đó ạ”. “Đúng vậy. Chú chỉ muốn nhắc, Viện Viễn Đông Bác cổ là một trung tâm khoa học nhân văn uy tín. Những con người ở đó hầu hết đáng kính, chúng ta biết ơn họ góp phần nghiên cứu và bảo tồn văn hóa bản địa. Nhưng họ làm việc dưới quyền thực dân Pháp, mà mục đích thành lập Viện này không ngoài sách Tôn Tử: “Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bất đãi”, hiểu Đông Dương để thắng lợi trong công cuộc chinh phục Đông Dương. Niên san năm 1908 của Viện có bài kêu gọi đối xử bình đẳng với người bản xứ, lập tức Toàn quyền Bonhoure trực tiếp nhắc nhở Viện hãy chuyên tâm vào nghiên cứu khoa học. Trở lại việc chính của chúng ta: Để giành được chủ quyền đất nước chúng ta cần nhiều thanh niên giỏi kỹ thuật và quân sự. Khoa học xã hội rất quan trọng, nhưng không là ưu tiên lúc này”… Có tiếng động khẽ phía sau, Annette ngoảnh lại. Từ khá xa, dưới tán cây long não, cha của Long ngồi trên xe lăn, bất động. Sợ hãi, cô vội quay mặt, tránh cái nhìn của ông. Lát sau, cô quyết định giải thích về sự có mặt của mình ở đây. Nhưng ông già và chiếc xe lăn đã biến mất. Annette chạy về phòng, đóng chặt cửa, ngồi bệt vào góc khuất, trùm kín chăn, bật khóc.
Giờ cơm chiều của gia đình, sau một lúc gõ cửa và gọi mà Annette không đáp, Long phá then cài. Nghe động, mẹ của Long vội đến. Cả hai lo lắng, vỗ về trấn an cô gái. Đang có chút hiệu quả thì cha của Long và chiếc xe lăn xuất hiện. Annette rú lên, hai tay che mặt. Chính thái độ điềm tĩnh và giọng nói chân thành ấm cúng của ông giúp cơn bấn loạn của cô gái dịu dần. Như hiểu Annette sợ hãi điều gì, ông từ tốn mở đầu câu chuyện bằng chính đôi chân thương tổn của mình, rằng đó là hậu quả hai năm bị xiềng biệt giam tại ngục Lao Bảo vì tội viết những bài báo chống chính quyền bảo hộ trên tờ La Cloche fêlée. “Lúc chiều, ta hiểu cháu sốc khi nghe người nhà này nói những lời thù địch với đất nước cháu, và ta cảm thông. Ta tin cháu cũng sẽ thông cảm cho họ nếu biết ít nhất có đến ba người thân trong gia tộc họ bị chính phủ Pháp lưu đày: vua Hàm Nghi, vua Thành Thái và vua Duy Tân. Thông cảm hơn nữa nếu biết họ là con cháu của Điện tiền thị vệ Tôn Thất Đề, người bị xử chém sau cuộc khởi nghĩa 1916 thất bại, cùng các nghĩa sĩ Nguyễn Quang Siêu, Thái Phiên, Trần Cao Vân…”.
Tối hôm đó, lần đầu Long chung phòng cùng Annette. Và cô đã lý giải: “vì anh ấy không nỡ để tôi một mình sau một sang chấn như thế”.
*
Đặt phong thư ngỏ khuyết danh kề bên sổ tay bìa tím, vì tôi biết điều đó khiến cha tôi và cả mẹ tôi hạnh phúc. Nghĩ đến ông lại nhớ hình ảnh cây ngô đồng Việt trút sạch lá, trổ hết hoa, đau đáu phượng hoàng. Tôi rót hết phần còn lại trong chai vang ra ba chiếc ly thủy tinh. Uống thật chậm. Ly này cho mẹ. Ly này cho cha bên kia bán cầu. Và ly này cho con trai của họ.
Ngoài cao xanh kia, chỉ còn mỗi vì sao nán lại, không ngừng nhấp nháy phát tín hiệu chào ngày mới. Sao mai là sao hôm đó thôi.
V.Q
(TCSH422/04-2024)
Tải mã QRCode
KHẢI NGUYÊN Pa-ri, mùa hạ năm 198...Vườn Bách thảo giữa thành phố kề sông Xen phía tả ngạn. Ông đến đây như một kẻ lánh đời, sợ nơi đông người. Thật ra, phần lớn đường phố Pa-ri trong giờ làm việc không ồn, không thừa thãi người đi nhong như ở Việt Nam. Em ông ở quê ra Hà Nội chơi đứng ngắm dòng người và xe nườm nượp qua lại cứ tự hỏi: những con người này đi đâu, về đâu mà tuôn mãi như là chẳng ai về nhà cả, như là cái "nghiệp" trời đày phải đi.
ĐỖ KIM CUÔNGNhiều năm trôi qua tôi đã trở thành người đàn ông đứng tuổi. Có một mái ấm gia đình, vợ con hạnh phúc. Nhưng mỗi lần nghĩ về nàng, một người đàn bà chỉ kịp quen trên chuyến đò từ Huế ra Phong Điền, chia tay nàng để nhiều năm sau, tôi mới được gặp lại nàng trong một hoàn cảnh khác, tôi vẫn giữ nguyên một cảm giác hết sức lạ lùng. Một ý nghĩa luôn ám ảnh tôi khá kỳ quặc rằng: Tôi đã bị nàng hiểu lầm, là một chàng lính giải phóng “hám gái, dại khờ”... Bởi vì sau vụ việc ấy, chính tôi cũng rủa thầm mình là ngu ngốc.
NGUYỄN VIỆT HÀVọng đi vào núi. Tại sao phải đi vào núi thì Vọng mong manh biết, còn sẽ đi vào núi như thế nào thì anh không biết. Nắng của chiều ngần ngừ trên một đường mòn và đường mòn heo hút cỏ dại đến đây thì chia hai.
HÀ KHÁNH LINHGiáo sư tiến sĩ Hoàng Lập Xuân thường nói với các sinh viên của mình thuở còn ấu thơ bà tin những chuyện cổ tích là có thật, từ đó bà đã sống và hành động theo tinh thần cổ tích. Khi đã thành danh, bà thường ngẫm nghĩ đối chiếu mình với các nhân vật trong cổ tích. Nhiều người lấy làm ngạc nhiên khi thấy chuyện cổ tích đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách của một con người như giáo sư tiến sĩ Hoàng Lập Xuân. Càng ngạc nhiên hơn, khi biết rằng những chuyện cổ tích bà được nghe kể khi còn nhỏ không phải do ông bà nội ngoại, không phải do cha mẹ...
HƯỚNG DƯƠNGTết đã gần đến rồi. Những ngày này mọi người chỉ nghĩ đến một việc là chơi gì trong ngày Tết? Trước đây, cuộc sống thiếu thốn thì Tết là dịp để ăn uống cho no say đầy đủ - Vậy mới gọi là ăn Tết. Còn giờ, mọi sự dinh dưỡng thừa mứa, đàn ông bụng phệ nhan nhản, đàn bà đi hút mỡ thường kỳ, bệnh béo phì của trẻ em gia tăng. Ăn uống là kẻ thù của con người. Vậy nên, Tết không còn là ăn Tết nữa mà là vui Tết, chơi tết.
PHẠM ĐÌNH TRỌNGChưa bao giờ Ngay có ý nghĩ rời Hà Nội đến sống ở vùng đất khác thế mà anh đã đột ngột đưa cái gia đình bé nhỏ không còn nguyên vẹn của anh đi vào thành phố phía Nam cách Hà Nội ngót hai ngàn cây số. Anh đi như chạy trốn để rồi càng ngày anh càng nhớ quay quắt nơi anh đã để lại cả một thời tuổi trẻ đẹp đẽ.
THU NGUYỆTTrắng và trắng. Muột thơm và tinh khiết. Mặt đất dường như đỏ và mịn hơn khi được trải mình ra đón nhận sự nương tựa dịu dàng của những cánh hoa sứ ấy. Tôi khẽ khàng nhặt một bông sứ nhỏ, không đưa lên mũi ngửi như thói thường mà trang trọng áp vào tai. Trong làn hương tràn ngập, tôi nghe vẳng tiếng chuông ngân đẫm mát. Ai đó ơi, hãy một lần thử xem, nhặt một bông sứ nhỏ sân chùa, nhè nhẹ áp vào tai, sẽ nghe thấy những âm thanh và làn hương kỳ diệu! Cái cảm giác lạ lùng mà tôi đoán chắc rằng ai đó sẽ bất ngờ thấy mình khác hẳn đi.
PHẠM THỊ ANH NGAVới tôi mạ không có công ơn mang nặng đẻ đau, nhưng mạ đã thực sự ban cho tôi sự sống: sau khi lần lượt sinh bốn người con gái đầu lòng, lần thứ năm chín tháng cưu mang và "vượt cạn mồ côi một mình" mạ đã sinh ra anh, người sau này sẽ là "một nửa" của đời tôi.
PHẠM THỊ XUÂNTừ ngày Hoạt được đề bạt lên phó giám đốc, Mùi bắt đầu tiến hành một cuộc cách mạng trong gia đình. Nhìn vào đâu, vào cái gì, Mùi cũng chưa thấy nó xứng đáng với địa vị mới của chồng. Ngôi nhà ba gian vừa xây cách đây không lâu, bây giờ nó đã trở nên lạc hậu trong mắt Mùi. Mùi nghĩ, giá như hồi ấy mà làm theo kiểu nhà hộp thì bây giờ có phải đã lên thêm được một tầng như một số người quanh đây không.
HƯƠNG LANTuấn nhìn đồng hồ, rồi lại đi lui, đi tới không biết là lần thứ bao nhiêu trong buổi sáng này trên hành lang của Tòa án nhân dân Thành phố. Vẫn còn 5 phút nữa mới đến giờ, nhưng Tuấn có cảm giác giận Hương, có lẽ cô ta không đến, cô ta muốn gây khó dễ cho mình... Tuấn thầm nghĩ và lòng anh hiện lên một chút đay nghiến với người phụ nữ đang còn là vợ anh trong vài tiếng đồng hồ nữa.
BÙI MINH QUỐCNgày hôm ấy là một ngày không có gì đặc biệt trong cuộc sống cực nhọc, buồn tẻ của giáo sư Lê Khương- một ông già ngót sáu mươi tuổi mà vẫn sống độc thân. Nhưng rồi có một sự đặc biệt đến với ông vào lúc gần nửa đêm. Sau khi rà sửa lại lần thứ ba mấy chục trang cuối tập bản thảo một công trình mới nhất của mình, giáo sư đặt lưng xuống giường ngủ thiếp đi. Và, như thường lệ, ông bắt đầu thấy chiêm bao.
DƯƠNG THÀNH VŨBuổi sớm maiSông thức dậyMột mìnhTrôi mải miết (René Char)
ĐOÀN BÍCH HỒNGBà lão ngồi bất động nơi cây cầu giơ một khúc gỗ khẳng khiu đỡ lấy sàn nhà. Trong lúc liếc nhìn bóng mình lao chao trong cái màu xanh rêu đùng đục của dòng sông đang gắng gỏi vài mét nước cuối cùng trước khi nhập vào lòng biển, bà cố ghi nhận cái thời khắc quan trọng mà bà cảm thấy nó đang đến gần.
NHƯ BÌNH1. Đực và cái. Một đứa con trai đứng bên một đứa con gái là giống đực đặt bên giống cái. Còn nhỏ chúng là những đứa trẻ, không ngại ngùng bởi vấn đề giới tính. Trưởng thành, hai giống bên nhau tạo sức hút và nảy sinh cái gọi là tình yêu. Các cụ ta xưa rất hiểu quy luật giới tính này. Chả thế mà cứ nhốt hai giống vào một phòng là thành vợ chồng.Bố mẹ tôi cũng là một cặp như thế.
NGUYỄN VĂN ĐỆThuần ra bến thuyền vào lúc thuỷ triều đang lên. Lúc này là nửa đêm. Trăng hạ tuần trong như con cá mòi tháng bảy nhảy hất lên từ mặt biển treo mình giữa nền trời xanh ngát. Gió tây se lạnh, gió thổi từ đất liền ra giộng rừng phi lao reo lên cùng với tiếng vi vu, vi vút, gió thổi vào ngọn sóng làm hắt lên những tia sáng.
NGUYỄN THANH MỪNGĐã bát tuần, ông vẫn chưa nghĩ đến cái già. Đó là ông nói vậy, bô lô ba la trước bàn dân thiên hạ, trong đó tất nhiên không thiếu cả bạn bè, nhất là những người đáng tuổi con cháu nhưng được ông tôn vinh là thần tượng của quốc gia, thậm chí quốc tế nữa.
NHẤT LÂM Truyện ngụ ngôn hiện đạiTrong đàn chó săn của ông Mỗ thì Fóc vào loại anh cả đỏ. Ngoài chân cao, mũi thính, mình dài, chạy như tên bắn... nói chung những gì cần cho một con chó săn đích thực thì Fóc có cả.
NGUYỄN TRƯỜNG Nơi hầm tối là nơi sáng nhất (Thơ Dương Hương Ly)
TRẦN THUỲ MAINăm nay mùa đông lạnh hơn hẳn mọi năm. Gió cao nguyên cứ tràn qua, tràn qua từng đợt, những bông quỳ chấp chới vàng như sóng. Quỳnh bảo tôi: Gió ở đây một đi không trở lại, khác ở Huế. Gió từ sông Hương thổi lên là gió rất đa mang, thổi tà áo bay dùng dằng, như trong câu hát ngày xưa "Gió bay từ muôn phía...".
HẢI THITôi lớn lên ở một ngôi nhà nhỏ ven sông. Con sông nhỏ chảy qua một vùng quê hẻo lánh. Nhà tôi và nhà Khan đối diện nhau trên dòng trôi quê mùa ấy, chỉ có điều nhà tôi thì quay mặt ra sông, còn nhà Khan thì quay lưng ra sông, chính vì thế mà thuở nhỏ, mỗi lần tắm sông cười đùa ầm ỉ, tôi hay bị ba tôi rầy la nhiều hơn, vì ba tôi chỉ cần ngồi trên nhà đưa mắt là thấy ngay tôi đang trèo lên những bè lục bình để làm công chúa, còn ba Khan thì chỉ trông thấy Khan ném bùn đất vào cô công chúa kỳ khôi mỗi khi ông có việc phải ra đằng sau bếp.