50 năm chiến thắng A Bia: Trận đánh góp phần tạo bước ngoặt trong chiến tranh Việt Nam

08:38 26/07/2019

Kỷ Niệm 72 Năm Ngày Thương Binh - Liệt Sĩ (27/7/1947 - 27/7/2019) 

PHẠM HỮU THU

1. Trở lại chiến trường xưa

Đúng vào dịp 50 năm chiến thắng A Bia (1969 - 2019) tôi tháp tùng cùng đoàn cựu chiến binh của Trung đoàn 3, Sư đoàn 324 thuộc Quân khu Trị Thiên trước đây trở lại A Bia - nơi diễn ra trận đánh kéo dài 10 ngày được giới nghiên cứu Mỹ mô tả là: ác liệt nhất, khủng khiếp nhất, kinh hoàng nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam.

Sau khi được công nhận là di tích lịch sử cách mạng, từ năm 2006, ở dưới chân đồi này tỉnh Thừa Thiên Huế đã cho dựng Nhà trưng bày chiến thắng A Bia. Đập vào mắt tôi không phải là cảnh núi đồi bị bom đạn cày nát hay trực thăng cuống cuồng bốc binh sĩ Mỹ tử trận hay bị thương mà là tấm hình có mang dòng chữ:

“WELCOME TO HAMBURGER HILL”

Nội dung bức ảnh, tự nó nói lên tất cả.

HAMBURGER HILL - Đồi thịt băm là tên do báo chí Mỹ đặt từ năm 1969 khi họ đổ xô đến đây để tường thuật về trận chiến diễn ra ở cao điểm 937, tức là đỉnh núi A Bia nằm giáp tuyến biên giới Việt - Lào nay thuộc xã Hồng Bắc, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế. Xem phim, đọc tài liệu từ hai phía tham chiến đã phần nào giúp tôi hình dung về trận đánh lịch sử này. Một trận đánh được báo chí và truyền hình Mỹ tường thuật như sau: “Trong 9 ngày, quân Mỹ và Nam Việt Nam (tức Quân đội Sài Gòn) 10 lần tiến chiếm và bị đánh bật ra cả 10 lần. Thương vong rất lớn… Nơi này được gọi là “Đồi thịt băm”.

Mặc dù con số thương vong của binh sĩ Mỹ còn có sự khác biệt nhưng có một sự thật là “trong trận Abia, binh lính Mỹ đã bị sa vào cơn ác mộng của một trận cận chiến. Trong suốt trận đánh đó, Tiểu đoàn 3/187 (thuộc Lữ đoàn 3 Sư đoàn 101 Airborne) đã bị tan vỡ cả về tinh thần và thể chất trước sự chống trả quyết liệt của đối phương”, như chính phía Mỹ thừa nhận.

Chính trận A Bia - HAMBURGER HILL đã làm chính trường nước Mỹ rung chuyển, nó xảy ra đúng vào thời điểm có đến 543.482 binh sĩ My hiện diện tại miền Nam Việt Nam và Tư lệnh Quân đội Mỹ ở Nam Việt Nam Đại tướng C.Abrams đang chủ trương “Quyét sạch và Nắm giữ” - Clean and Hold nhằm tìm thế thắng trên chiến trường nhưng không ngờ lại gặp thất bại thảm hại. Cũng chính từ tác động đó mà trung tuần tháng 6/1969, Mỹ bắt đầu rút quân và thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh.

* Vượt xa giá trị chiến thắng của một trận đánh thông thường
 

PGS.TS. Trần Ngọc Long ở đỉnh đồi A Bia

Sau nửa thế kỷ, diện mạo của núi rừng A Bia nay đã khác. Những đỉnh đồi trọc lóc do bị đạn, bom cày phá thuở nào giờ chỉ còn trong phim ảnh. Thay vào đó là sự hồi sinh cây cối tươi xanh trở lại. Nếu không có Đài tưởng niệm những anh hùng, liệt sĩ của Trung đoàn 3 Sư đoàn 324 Quân khu Trị Thiên ngã xuống thì ít ai biết mình đã lên đến đỉnh đồi A Bia sau khi vượt qua 853 bậc cấp dài 1.567m đầy khó nhọc.

Sau khi dự Hội thảo về trận đánh lịch sử này, tôi đã cùng PGS.TS Trần Ngọc Long (nguyên Phó Viện trưởng Viện nghiên cứu lịch sử quân sự Việt Nam) và nữ Bí thư Huyện ủy A Lưới, TS. Nguyễn Thị Sữu (tức Kê Sữu) dâng hương tưởng nhớ anh linh những người con đã vị quốc vong thân.

Do đã nghe ông trình bày tham luận tại Hội thảo lấy ý kiến về Kỷ yếu trận đánh đồi A Bia (do huyện A Lưới và Ban liên lạc Trung đoàn 3 Sư đoàn 324 tổ chức) nên tôi hiểu vì sao trận chiến A Bia - Hamburger Hill lại chưa được giới nghiên cứu trong nước quan tâm nghiên cứu trả về đúng vị trí của nó.

PGS.TS Trần Ngọc Long nêu ý kiến: Trong lịch sử chiến tranh hiện đại, có những trận đánh diễn ra trong một khoảng thời gian ngắn, trên một không gian không lớn, lực lượng tham chiến vừa phải, mục tiêu đặt ra ban đầu chỉ ở tầm mức chiến thuật, chiến dịch… nhưng tác động mà chiến thắng của trận đánh đó mang lại đạt tới tầm chiến lược, vượt xa giá trị chiến thắng của một trận đánh thông thường. Chiến thắng của quân và dân Trị - Thiên trong trận A Bia (tháng 5/1969) là một trong những chiến thắng như vậy.

Ở Mỹ, rất nhiều trận đánh được đưa vào giảng dạy trong các học viện, trường sĩ quan; được giới nghiên cứu mổ xẻ, phân tích và được tái hiện trong các công trình lịch sử quân sự. Người Mỹ đã xếp A Bia vào hàng Những trận đánh quyết định trong chiến tranh Việt Nam - Vietnam the Decisive Batteles.

Riêng trận A Bia đã được rất nhiều công trình nghiên cứu lịch sử chiến tranh và hồi ký của các tướng lĩnh, cựu chiến binh tham gia chiến tranh Việt Nam đề cập đến.

Dù nửa thế kỷ trôi qua nhưng dư âm của trận A Bia và cái tên Thung lũng A Sầu - “Đồi Thịt băm” vẫn đeo bám và ám ảnh lương tâm của nhiều cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến ở Việt Nam”.

 

Jason Haeseler (giữa) cùng PGS.TS Hoàng Văn Hiển - Hiệu trưởng Trường Đại học khoa học Huế (trái) và tác giả

Jason Haeseler (trú tại 365 NW 48  Bwd Gainesville, EL,USA) cho biết, khi đến Việt Nam anh mong ước được thăm đồi A Bia - Hamburger Hill để “được tận mắt chứng kiến nơi có đến 2 người thân của tôi thiệt mạng”. Trên dường lên đỉnh A Bia, khi đến khu vực có biển chỉ dẫn “Điểm rơi máy bay trực thăng”, J. Haeseler dừng lại khá lâu để quay phim. Có thể, người thân của anh đã bị tử nạn khi máy bay chưa kịp tiếp đất.

Trong khi đó thì ở Việt Nam, chiến tranh đã lùi xa hơn 40 năm nhưng cho đến nay những trận đánh như A Bia vẫn chưa được nghiên cứu, đánh giá một cách toàn diện và sâu sắc để thấy hết tầm vóc, ý nghĩa và tác động của nó đối với cục diện chiến tranh. Phải chăng trong cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước có quá nhiều những trận đánh kiểu như vậy nên người ta dễ dàng quên hay không để tâm nghiên cứu, mổ xẻ làm nhiều người không biết tường tận về trận A Bia?

2. Trận đánh quyết định

Nằm gần A Bia có 3 mỏm núi xấp xỉ cùng độ cao. Phía Tây Bắc là các điểm cao: 916, 903 và phía Đông Nam là cao điểm 900. Ba cao điểm này kết hợp với A Bia hình thành thế chân vạc; nếu chiếm lĩnh được thì toàn bộ thung lũng A Lưới (đối phương quen gọi là A Shau) dài chừng 20 cây số sẽ bị đặt trong tầm khống chế. Khi phát hiện một đơn vị chủ lực Quân Giải phóng đang đồn trú tại A Bia, Quân đội Mỹ đã quyết định mở cuộc tấn công nhằm kiểm soát cao điểm này.

* Kế hoạch của Quân đội Mỹ

Yểm trợ cho kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh, đầu năm 1969, Mỹ đã xây dựng ở phía Đông trục đường 14 (đường Hồ Chí Minh chạy qua thung lũng A Lưới ngày nay) 5 căn cứ quân sự gồm: động Cô Pung, động A Rlau, động Tách, Đèo A Co và Tà Bạt. Đây không chỉ là nơi đồn trú của lính Dù Mỹ mà còn là những trận địa pháo yểm trợ hỏa lực khi tấn công A Bia, tức cao điểm 937.

Theo kế hoạch của Bộ Tư lệnh MACV và Bộ tư lệnh Quân đội Quân đội Sài Gòn, trận đánh vào cao điểm 937 - A Bia thuộc là giai đoạn hai của chiến dịch đầy tham vọng mang tên: Apache Snow - Tuyết rơi trên đỉnh Apache. Quân đội Mỹ quyết định huy động lực lượng tham chiến tương đương 2 Sư đoàn, gồm: Tiểu đoàn: 3/187; 2/501 và 1/506 thuộc Lữ đoàn 3, Sư đoàn 101 Airborne. Trung đoàn 9 Thủy quân lục chiến, Thiết đoàn 3 thuộc Trung đoàn Kỵ binh 5 Lục quân Hoa Kỳ. Phối hợp cùng quân Mỹ, phía Quân đội Sài Gòn có Tiểu đoàn: 2/1 và 4/1 thuộc Sư đoàn I Bộ binh tham chiến. Ngoài lực lượng Bộ binh và Pháo binh, Không quân Mỹ đồn trú ở Đà Nẵng và Phú Bài đều được huy động theo yêu cầu. Trận đánh vào đồi A Bia - cao điểm 937 được đặt dưới quyền chỉ huy của Đại tá Joseph Conmy Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3.

Sau khi dùng B.52 rải thảm, bắn pháo dọn đường, ngày 10/5/1969, đại tá J.Conmy huy động trực thăng chở 5 tiểu đoàn mở cuộc tấn công vào thung lũng A Sầu (A Shau). Theo kế hoạch, Thủy quân lục chiến và các đơn vị trinh sát Mỹ tiến về phía biên giới Lào, trong khi các đơn vị Quân đội Sài Gòn cắt đường giao thông qua thung lũng A Shau. Tiểu đoàn 2/501 và 1/506 sẽ tiêu diệt đối phương và ngăn chặn các tuyến đường Quân Giải phóng trốn thoát sang Lào. Nếu đụng độ mạnh với đối phương, Đại tá J. Conmy sẽ dùng trực thăng viện quân hỗ trợ.

* Kế hoạch của Quân Giải phóng

Phán đoán ý đồ của đối phương, tháng 3 năm 1969 Quân khu Trị Thiên đã điều 3 Trung đoàn: 6, 9 và 29 vào A Lưới chuẩn bị chiến trường. Chiều 25/4/1969, Trung đoàn 3 (ngày 2/8/1969 được mang tên Trung đoàn 3 Đoàn Ngự Bình) do Trung đoàn trưởng Ma Vĩnh Lan chỉ huy; Kiều Tam Nguyên làm Chính ủy tiếp cận trận địa. Với sự góp sức của Đại đội Công binh, ngày 3/5/1969 hệ thống hầm hào ở A Bia đã hoàn tất, sẵn sàng chặn đứng âm mưu của Mỹ. Sau khi thảo luận, cuối cùng Trung đoàn đã chọn phương án “vận động tấn công kết hợp chốt” để đánh trả, trong đó A Bia là điểm chốt.

Chiều 7/5/1969 Trung đoàn đã chính thức giao nhiệm vụ cho các đơn vị như sau:

- Tiểu đoàn 8 (Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Ninh; Chính Trị viên Lê Ngọc Mai) được tăng cường Đại đội cối 82 ly chốt giữ động A Bia nhằm thu hút địch.

- Tiểu đoàn 7 (Tiểu đoàn trưởng Tăng Văn Miêu; Chính trị viên Trần Triền Chinh) đánh vận động tiến công trên các điểm cao 916 và 903.

- Tiểu đoàn 9 (Tiểu đoàn trưởng Võ Vượng; Chính trị viên Hồ Chư) là lực lượng dự bị có chuyển đạn và cử trinh sát bám các mũi tiến công của đối phương.

Ngoài 3 Tiểu đoàn Bộ binh, Trung đoàn 3 còn có 10 Đại đội trực thuộc, gồm: Đại đội Trinh sát, Đặc công, Thông tin, Công Binh, Cối 82mm, ĐK Z75mm, Cao xạ 12,7mm, Vận tải, Quân Y, Vệ binh. Tổng số xấp xỉ 1.800 quân.

Chiều 8/5/1969, các đơn vị của Trung đoàn chiếm lĩnh trận địa. Sát cánh cùng Trung đoàn 3 Sư đoàn 324 là bộ đội địa phương và du kích các xã của quận 3 miền Tây Thừa Thiên, nay là huyện A Lưới. Họ không chỉ phối hợp chiến đấu mà còn tham gia trinh sát, dẫn đường, vận chuyển vũ khí, lương thực và thương binh… góp phần giữ vững địa bàn, tiêu diệt nhiều sinh lực, đánh bại cuộc hành quân của địch.

Bản đồ của Quân đội Mỹ về trận đánh A Bia - Hamburger Hill



* Diễn biến

Đúng như nhận định, ngày 10/5/1969, quân đội Mỹ đã hình thành 5 tầng hỏa lực từ cao xuống thấp: sau B.52 là máy bay phản lực ném bom, tiếp đến trực thăng vũ trang AU-I Cobra áp sát xã đạn tầng bốn là đạn pháo và cuối cùng là hỏa lực của Bộ binh. Sau nhiều giờ, thả bom và bắn phá dữ dội, gần trưa cùng ngày, Mỹ dùng trực thăng đổ bộ binh sĩ của Tiểu đoàn 3/187 do Trung tá Weldon Honeycutt chỉ huy xuống điểm cao 500 và 400 cách A Bia khoảng 1km về phía Đông - Đông Bắc.

Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 Nguyễn Ninh lệnh cho Đại đội trưởng Đại đội 5 Phạm Xuân Chuyển và Chính trị viên Trần Công Lý chỉ huy tập trung 3 khẩu đội 82 ly đánh phủ đầu khi vừa tiếp đất làm cho 47 binh sĩ Mỹ thiệt mạng, hàng chục binh sĩ khác bị thương buộc phải lui về cao điểm 500. Đại đội 5 rút về A Bia chốt giữ trận địa. Ở cao điểm 903, Tiểu đoàn cử 1 Đại đội với hỏa lực mạnh tấn công Binh sĩ Mỹ khi vừa đổ bộ xuống đây buộc Mỹ phải điều động trực thăng thu quân. Đến 15 giờ cùng ngày 10/5/1969, Mỹ đổ 1 Đại đội xuống cao điểm 903. Trong khi binh sĩ Mỹ chưa kịp phân tán, Chủ nhiệm Pháo binh Trung đoàn Nguyễn Tấn Răng dùng 4 khẩu cối 82 ly của Đại đội 14 dội đạn vào đội hình làm cho 27 binh sĩ Mỹ thiệt mạng và 35 người khác bị thương buộc phải tháo chạy. Ngày đầu chiến dịch, cả ba hướng tấn công của Tiểu đoàn 3/187 Mỹ đều bị bẻ gáy.

Bước sang ngày thứ 2 (11/5), sau gần 4 giờ tập trung hỏa lực của Không quân và Pháo binh bắn phá ác liệt A Bia, Pa Đu, Tre Nít, Lữ đoàn 3 Sư 101 Airborne cho trực thăng chuyển 2 tiểu đoàn đáp xuống cao điểm: 903, 916 và các mỏm đồi phía dưới A Bia hình thành 3 hướng. Hướng phía đông từ Tre Nít, hướng đông nam từ Pa Đu - Bãi Ổi, hướng nam - tây nam cùng đồng loạt tấn công lên động A Bia.

Để đối phó với gọng kìm của Mỹ, Trung đoàn trưởng Ma Vĩnh Lan lệnh cho Tiểu đoàn 7 chỉ để 1 Đại đội ém quân tại khu vực 903, 906 những đại đội còn lại cơ động bám đánh địch. Đại đội 5 (do Nguyễn Xuân Chuyển, Trần Công Lý chỉ huy); Đại đội 7 (do Nguyễn Văn Thi, Phan Đân chỉ huy) nhờ khéo ngụy trang và chọn địa hình phù hợp tổ chức phục kích. Với mục đích gây thương vong lớn cho đối phương, họ đợi binh sĩ Mỹ đến gần trong tầm 25 - 30m mới đồng loạt bấm mìn và sau đó dùng B40, 41, cối 60 và 82 ly bắn đuổi khi binh sĩ Mỹ rút chạy.

Cũng trong ngày này, Đại đội Bravo của Tiểu đoàn 3/187 bí mật chiếm cao điểm 916. Trinh sát của Trung đoàn 3 phát hiện, và Trung đoàn 3 đã lệnh cho Tiểu đoàn 7 dùng Đại đội 2 (do Nguyễn Văn Tuấn, Trần Văn Quang chỉ huy) tiềm nhập bao vây tấn công. Trung tá chỉ huy Tiểu đoàn 3/187, W. Honeycutt gọi trực thăng vũ trang AH-1 Cobra yểm trợ nhưng không ngờ thảm họa lại xảy ra. Trực thăng bắn vào quân Mỹ làm 2 binh sĩ tử trận và 35 người khác bị thương, trong đó có viên Trung tá chỉ huy trưởng Tiểu đoàn 3/187! (Hình ảnh này đã được đạo diễn Jonh Irvin tái hiện trong bộ phim Humburger Hill).

Phối hợp với A Bia, đêm 11/5, đặc công của Quân khu Trị Thiên tấn công vào Sở chỉ huy Lữ đoàn 3 Sư 1011 Airborne ở Động Tranh, buộc Mỹ phải điều Tiểu đoàn 2/506 ở A Lê Thiêm về bảo vệ căn cứ này.

Bước sang ngày thứ ba (12/5), 1 đại đội của Tiểu đoàn 3/187 ở cao điểm 916 chuẩn bị tấn công sang động A Bia bất ngờ bị Đại đội 2 của Tiểu đoàn 7 đồng loạt dùng B40, B41, cối 60, 82mm, ĐKZ bắn dội vào đội hình nên bị tiêu diệt gọn. Chỉ huy Lữ đoàn 3 Sư 101 Airborne chưa hay biết gì về số phận đại đội của Mỹ vừa bị tiêu diệt nên vẫn cho đổ quân xuống cao điểm 906 tiếp ứng. 2 máy bay trực thăng cùng binh sĩ Mỹ đã bị Đại đội 2, Tiểu đoàn 7 bắn cháy. Chia lửa với A Bia, đêm 12 và 13/5, Đại đội đặc công Trung đoàn 3 (do Nguyễn Duy Hảo, Nguyễn Mạnh Đẩu chỉ huy) tập kích tiêu diệt trận địa pháo của Mỹ ở động Ta Tách. Tiểu đoàn 3 Đặc công Quân khu Trị Thiên đánh diệt trận địa pháo Mỹ trên động A Rlau.

Bước sang ngày thứ 4 (13/5) trong khi binh sĩ Mỹ tập trung ở khu vực dưới “yên ngựa” chuẩn bị tấn công lên A Bia đã bị Tiểu đoàn 8 dùng mìn quét vào đội hình và dùng cối 82 ly bắn chặn đường rút. Giữa lúc binh sĩ Mỹ đang hoảng loạn thì binh sĩ của Tiểu đoàn 7 tấn công trực diện. Đại đội 1 Tiểu đoàn 2/501 của Mỹ bị tiêu diệt.

Sau 3 ngày chủ động tấn công, Chỉ huy Trung đoàn 3 quyết định giao Tiểu đoàn 8 tiếp tục giữ chốt A Bia, Tiểu đoàn 7 giữ cao điểm 903; điều Tiểu đoàn 9 dự bị vào hoạt động ở A Lê Thiêm, A Lê Lốc; đồng thời dùng lực lượng đặc công liên tục tập kích vào các vị trí đóng quân của Mỹ.

Bước sang ngày 14/5, khi phát hiện 1 đại đội lính Mỹ đang ẩn nấp dưới hố bom ở phía Nam chân động A Bia, Tham mưu trưởng Trung đoàn Nguyễn Hoán và Tiểu đoàn 7 tổ chức phân đội hỏa lực 12 khẩu gồm B40, B41, cối 60, 82 ly bất ngờ tập kích vào đại đội này. Các ngày 15, 16, 17/5, Sư đoàn 101 Airborne Mỹ ra sức bắn phá, tấn công quyết liệt. Bom, pháo, bom napalm, đạn hóa học thay nhau dội xuống A Bia - nơi Tiểu đoàn 8 đang chốt giữ. Cuộc chiến diễn ra quyết liệt. Hai bên giành giật từng căn hầm, từng mét vuông đất trên đồi A Bia. Bộ đội Trung đoàn 3 kiên cường chiến đấu, một tấc không đi, một ly không rời, thề sống chết với A Bia.

Thực hiện chiến thuật vận động tiến công kết hợp chốt, Tiểu đoàn 7 và 9 cơ động đánh địch tấn công vòng ngoài bảo vệ trận địa chốt. Tiểu đoàn 7 liên tục tiến công địch khu vực 903 , 916 và động Chuối. Tiểu đoàn 9 liên tục đánh địch trên dãy Tre Nít, tập kích trận địa pháo dọc đường 14 phía đông A Bia. Để tăng cường lực lượng, ngày 14 và 15/5, Đại tá Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 3 Joseph Conmy tiếp tục cho trực thăng chở Tiểu đoàn 3 đổ quân xuống dãy Tre Nít, phối hợp với 2 tiểu đoàn: 2/1 và 4/1 Sư đoàn I Bộ binh Quân đội Sài Gòn đột kích vào A Bia.

Trước diễn biến mới này, Chỉ huy Trung đoàn 3 lệnh Tiểu đoàn 9 xuất kích tấn công đánh phủ đầu. Tiếp đó, ngày 16/5 Trung đoàn 3 tập trung 16 khẩu pháo, gồm cối 60, 82 ly, mm, B40, B41, ĐKZ, SMPK 12,7 ly tập kích bất ngờ vào động Chuối. Thêm 1 đại đội Mỹ bị tiêu diệt. Cùng trong ngày 16/5, sau khi dùng phi pháo bắn phá ác liệt, Đại đội Bravo thuộc Tiểu đoàn I, Lữ đoàn 3 đã chiếm được cao điểm 916; đồng thời tung 2 tiểu đoàn vào cao điểm 900 phối hợp đánh lấn dần sang A Bia. Chiến sự diễn ra ác liệt, một số chốt bị chiếm. Trước tình hình đó, Tiểu đoàn 7 xin rút về nam A Bia nhưng Trung đoàn 3 lệnh phải tiếp tục bám trụ thu hút đối phương tạo điều kiện để các đơn vị của Trung đoàn lật cánh sang phía Nam A Bia, trước mắt chiếm lại cao điểm 916.
 

Đồi A Bia - Hamburger Hill - 1969

Ngày 18/5, Chỉ huy Lữ đoàn 3 Sư 101 Airborne điều Tiểu đoàn 1/506 vào hướng Nam và Tiểu đoàn 3/187 ra hướng Bắc phối hợp tấn công vào A Bia. Khi trực thăng đưa đại đội Delta (3/187) đến một ngọn đồi thì đã bị tập kích. Không được Không quân yểm trợ vì thời tiết xấu nên Tiểu  đoàn 3/187 phải rút lui. Ở cao điểm 900, 3 đại đội của Tiểu đoàn 1/506 Mỹ cũng gặp phải sự kháng cự của một đơn vị thuộc Tiểu đoàn 8.

Do bị thương vong nặng nề nên Đại tướng Tổng tư lệnh MACV A.Brams và Thiếu tướng Sư đoàn trưởng Sư 101 Airborne, Thiếu tướng Melvin Zais xem xét ngừng cuộc tấn công vào A Bia nhưng do Chỉ huy Lữ đoàn 3 cảm thấy bị “mất mặt” khi phải tháo lui khi lực lượng đối phương nhỏ bé hơn nhiều nên Sư trưởng 101 Airbonre đành bổ sung quân cho Lữ đoàn 3 tiếp tục tấn công.

Sau 1 tuần chiến đấu, thấy mục tiêu tiêu diệt nhiều sinh lực địch đã hoàn thành, đêm 18/5 các đơn vị của Trung đoàn 3 của Sư 342 bắt đầu rút lui, chỉ để lại A Bia một bộ phận nghi binh. Trưa 20/5/1969, Mỹ điều 4 tiểu đoàn tán công A Bia. Bộ phận nghi binh sau khi nổ súng cầm chân đối phương đã tìm cách rút lui.

Mãi đến chiều cùng ngày, Binh sĩ của Tiểu đoàn 3/187 Lữ đoàn 3 Sư đoàn 101 Airbonre mới đặt chân lên đỉnh A Bia, kết thúc trận đánh kéo 10 ngày được mô tả là: ác liệt nhất, khủng khiếp nhất, kinh hoàng nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam làm rung chuyển chính trường nước Mỹ dẫn đến kết cục buộc chính quyền Mỹ phải từ bỏ Chiến lược chiến tranh cục bộ, từng bước rút quân và thực hiện chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh. Báo chí Mỹ gọi A Bia là “Đồi thịt băm của lính dù Mỹ” và lên án quân đội Mỹ ném quân lên vùng núi A Bia chỉ để biến cuộc hành quân “Tuyết rơi trên đỉnh núi” - Apache Snow thành “Máu rơi trên đỉnh núi”.

P.H.T  
(TCSH365/07-2019)





 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • PHẠM HỮU THU

    Với tư cách là Bí thư Tỉnh ủy lâm thời và Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) của tỉnh Thừa Thiên - Huế, đầu năm 1942, sau khi vượt ngục trở về, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã có quãng thời gian gắn bó với vùng đầm Cầu Hai, nơi có cồn Rau Câu, được Tỉnh ủy lâm thời chọn làm địa điểm huấn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên.
    Để đảm bảo bí mật và an toàn, Tỉnh ủy đã chọn một số cơ sở là cư dân thủy diện đảm trách việc bảo vệ và đưa đón cán bộ.
    Số cơ sở này chủ yếu là dân vạn đò của làng chài Nghi Xuân.

  • TRẦN NGUYÊN

    Thăm Khu lưu niệm Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, như được trở về mái nhà thân thương nơi làng quê yêu dấu. Những ngôi nhà bình dị nối nhau với liếp cửa mở rộng đón ánh nắng rọi vào góc sâu nhất.

  • PHẠM HỮU THU
           Nhân kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22 - 12

    “Có những sự thật quá lớn lao của một thời, đến nỗi hậu thế nhìn qua lớp sương mù của thời gian, không thể nào tin nổi” (Nhà văn Phùng Quán).

  • TRẦN THỊ KIÊN TRINH

    Mùa hè năm nay tôi có dịp trở lại Sài Gòn. Thành phố với bao đổi thay nhưng tôi chưa kịp nhận thấy hết bởi thời gian tôi lưu lại Sài Gòn quá ngắn ngủi.

  • HOÀNG HƯƠNG TRANG

    Cũng lạ cho cái xứ Huế của tôi, cái chi cũng khác hơn thiên hạ. Nắng thì nắng cháy da phỏng trán, mưa thì mưa thúi đất thúi đai, dầm dề không dứt. Vài ba năm lại một trận lụt, trận bão to đùng.

  • BÙI KIM CHI

    “Tháng 7 nước nhảy lên bờ”. Mà lên bờ thiệt. Mưa. Mưa. Mưa… kéo dài lê thê. Lúc đầu nhỏ sau lớn dần. Nặng hạt. Xối xả. Cây cối trong vườn ngả nghiêng theo mưa và gió. Cây Lựu trước sân nhà tôi tơi tả. Trời tối dần. Mưa càng lúc càng to. Ào ào như thác đổ. Mưa suốt đêm. Sấm đất cuốn vào mưa. Ầm ầm. Ào ào. Âm thanh rộn rã…

  • Khi những giọt mưa ngâu tháng bảy bất ngờ trở về, làm xao động cả bầu trời mệt mỏi đang chìm lặng trong lòng sông Hương, Huế bỗng rùng mình chợt tỉnh cơn mê mùa hạ. Đó cũng là thời khắc mùa Vu lan đang về trên đất trời cố đô.

  • Hồi còn học ở Trường Đại học Sư phạm Huế, tôi có hai người bạn, hợp thành một nhóm, thường uống rượu với nhau khi vui cũng như khi buồn.

  • LTS: Tác giả của câu chuyện dưới đây, sinh ra và lớn lên ở làng quê Triều Sơn Nam, xã Hương Vinh, Hương Trà, Thừa Thiên Huế. Anh sinh ra trong sự oan nghiệt khủng khiếp của cuộc sống khi buổi sáng mẹ anh quằn quại nghe tin đau xé mất chồng, buổi chiều mẹ đón nhận tiếng khóc chào đời của anh.

  • NGUYỄN LỆ BA

    Gia phả họ Nguyễn Quang ghi chép, tổ tiên chúng tôi là những người đã ra đi từ đất Huế. Thuở dong buồm về phương Nam đi tìm đất mới, những lưu dân đầu tiên đến dựng làng lập ấp trên vùng sông nước quê tôi chỉ vỏn vẹn vài dòng họ với đôi ba chục con người.

  • BÙI KIM CHI

    Đã có một lần tôi được trở về thăm Huế vào một mùa trăng. Cảnh vật thiên nhiên trời ban riêng cho Huế làm Huế duyên dáng và đẹp lạ lùng vào những đêm trăng. Trăng Huế vì thế mà có nét đẹp rất riêng, là lạ, duyên dáng, lộng lẫy và quyến rũ trong phong cảnh vừa thơ, vừa duyên và lãng mạn của trời đất Huế về đêm.

  • NHÂN KỶ NIỆM 50 NĂM BỒ TÁT THÍCH QUẢNG ĐỨC VỊ PHÁP THIÊU THÂN

    NGUYỄN BỘI NHIÊN

  • Một nam sinh như tôi lại học trường nữ trung học Đồng Khánh (trường THPT Hai Bà Trưng hiện nay), có thể một số người cho đó là chuyện lạ đời. Nhưng đấy lại là sự thật 100%! Tuy tôi chỉ học ở trường Đồng Khánh một năm lớp năm bậc tiểu học (bây giờ là lớp 1) vào khoảng những năm cuối thập kỷ 40 đầu thập kỷ 50 của thế kỷ trước. Nhưng không hiểu tại sao tôi lại còn nhớ nhiều những kỷ niệm về năm học đầu đời ấy mãi tới tận bây giờ.

  • TRIỆU BÔN
             Hồi ký

    Mùa mưa năm 1968 ở mặt trận đường Chín - Khe Sanh, trung đoàn 246 chúng tôi được gọi đùa là trung đoàn hai bốn đói. Ngày ngày chúng tôi sống bằng ba nguồn chính: thịt thú rừng, rau môn thục, và đỗ xanh.

  • NGUYỄN MẠNH QUÝ

    Có lẽ bởi một nỗi niềm đau đáu về quê hương, nơi mình được sinh ra và chắt chiu nuôi dưỡng trong từng hạt cát, từng trận mưa dầm dề thúi trời thúi đất hay nắng lửa trên cồn khô cát cháy, mà những con người ở đây sẵn mang một tấm lòng lồng lộng gió trời trải đi khắp muôn phương...

  • BÙI KIM CHI

    Tôi đang đứng ở đây. Bến xe đò Đông Ba của thế kỷ trước. Bùi ngùi. Xúc động. Bến xe đã không còn. Thật buồn khi nơi này đã vắng bóng những chiếc xe đò dân dã, thân thương thuở ấy cùng những tà áo trắng học trò dung dị với giọng Huế trong trẻo ơi ới gọi nhau lên xe kẻo trễ giờ học.

  • NGUYỄN VĂN UÔNG
                         Tùy bút

    Tuổi càng cao càng có nhiều nỗi nhớ vu vơ. Tôi đang trong tình trạng đó. Nhớ cồn cào đến xao xuyến là mỗi dịp xuân về: Nhớ Tết quê tôi. Nhớ tuổi thơ tôi và nhiều nỗi nhớ khác nữa.

  • HOÀNG HƯƠNG TRANG

    Thuở nhỏ, tôi thường trốn ngủ trưa đi nghe hát vè. Ở Huế lúc ấy gọi là nói vè, như theo tôi phải gọi là hát vè thì đúng hơn, bởi người hát có bài có bản, có giai điệu, trầm bổng, có cả nhạc cụ.

  • HỒ XUÂN MÃN
    (Nguyên UVTƯ Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế)

    Năm 1973, để chuẩn bị cho ký kết hiệp định Paris, Khu ủy và Quân khu Trị Thiên - Huế chủ trương tổ chức các lực lượng (bao gồm cả bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích) tổ chức đánh chiếm các căn cứ và phân chi khu địch để giành đất, nắm dân, cắm cờ giành quyền làm chủ.

  • TRẦN THỊ NHƯ MÂN

    Tôi sinh ra trong gia đình quan lại, đã mấy đời làm quan với triều đình Huế(1). Khi tôi lớn lên thì chế độ cai trị của thực dân Pháp đã bước vào giai đoạn ổn định sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Chiếc ngai vàng của nhà Nguyễn từ nay trở đi chắc không còn phải chịu những cơn sóng gió đáng kể chi nữa.