Từ quan điểm của giới nghiên cứu tâm lý học, sự yêu thích này liên kết với tâm lý của người Nhật và giới học giả trong lĩnh vực này nhận ra Thất lạc cõi người có nhiều yếu tố có ích cho việc nghiên cứu tâm lý học nhân chủng. Mà điều tiêu biểu nhất là các học giả nhận ra tâm lý tự diệt trong cốt truyện và lời văn của tác phẩm1.
1. Cảm thức mồ côi
Không quá khó khăn để người đọc nhận thấy trong từng trang viết ấy chất chứa bao nhiêu nỗi đắng cay, lạc lõng, hoài nghi với giọng văn hài hước bi thương. Hoàn cảnh và số phận của nhân vật Yozo - nhân vật “tôi” đã chịu sự chi phối sâu sắc của mặc cảm Oedipus.
Sở dĩ ở Yozo chúng tôi phải dùng cụm từ định tính “cảm thức mồ côi” là tại vì cậu không thể có được một mối quan hệ huyết thống ở phương diện tinh thần mang tính chất thiêng liêng với người cha của mình.
Cũng chính vì không tìm thấy được dấu vết thiêng liêng trong sự kết nối tinh thần với người cha của mình mà Yozo ngay từ ấu thơ đã đặc biệt nhạy cảm (và mẫn cảm) với sự cô đơn, sự bơ vơ và vô định trong cuộc đời. Vị thế và tâm lý của nhân vật toát lên mùi vị của những đứa trẻ mồ côi. Bởi lẽ dù trong hoàn cảnh nào, dù thơ ấu hay đã trưởng thành, Yozo không bao giờ có cảm giác hạnh phúc đúng nghĩa. Mà nhân vật luôn oằn mình trong chuỗi dằn vặt về sự bất hạnh và tình trạng mất điểm tựa. Sự xa rời người cha của mình đã dẫn đến xa rời đồng loại mà Yozo định danh bằng tên gọi muôn trùng xa cách là “tha nhân”, “thế nhân”. Cho nên, nhắc đến cha mẹ của mình, mà đặc biệt là người cha, Yozo đều thấy thiếu vắng tình yêu thương mà chỉ có cảm giác bất khả tri: “thật tình ngay cả tôi cũng không hiểu hết con người của cha mẹ mình”; “cái dụng tâm của cha cũng đồng dạng với suy nghĩ của thế gian nên tôi cũng không hiểu rõ lắm”.
Càng cảm thấy xa lạ, càng cảm thấy mất liên kết thì hình bóng người cha càng đè nặng lên cuộc đời của Yozo. Cho đến tận cuối đời, hình bóng người cha càng trĩu nặng trong tâm tưởng cậu. Nhưng khi đau đớn, cô đơn nhất, Yozo đã khẩn thiết tìm đến sự liên kết với cha. Sau những năm tháng sống mòn trong cái vũng lầy u ám và sự giả dối, Yozo ngày càng tuyệt vọng, tuyệt vọng đến độ thê thảm, đã rơi vào căn bạo bệnh. Yozo đã phải sống bằng cách lợi dụng lòng trắc ẩn của người đàn bà liệt một chân bán thuốc rồi trở thành con nghiện. Và cuộc đời đối với cậu đã trở thành địa ngục. Yozo đã bắt đầu muốn chết. Trong hoàn cảnh bi thương đó, Yozo đã nghĩ đến cha của mình: “Cái cách cuối cùng để có thể thoát khỏi cái địa ngục này (mà nếu thất bại thì chỉ còn nước treo cổ tự sát) là quyết ý cá cược với thần linh, tôi viết một bức thư dài gửi cho cha tôi dưới quê kể lể hết sự tình của tôi bây giờ (tất nhiên những chuyện liên quan đến đàn bà thì không thể viết ra được)”. Tình tiết này nói lên một thực trạng khác trong tâm lý của Yozo và thể hiện mặc cảm Oedipus rất rõ ràng. Đó là sự ngưỡng vọng về người cha với sự cưu mang, bảo bọc. Lần đầu tiên trong đời mình, Yozo nhìn về người cha với sự khát khao được liên kết chân thành mãnh liệt. Người cha đó, sau những năm dài tồn tại trong mối quan hệ bất thỏa với Yozo, đã được Yozo nhìn nhận mang tính chất thánh thần thiêng liêng. Hãy chú ý là Osamu đã hạ bút với chi tiết “quyết ý cá cược với thần linh”. “Cá cược với thần linh” thật ra là cá cược với lòng thương còn sót lại của người cha đối với con. Người cha đã được thần thánh hóa với tất cả sự tôn nghiêm mà cậu đã từng chối bỏ. Chú ý một điều nữa rằng, trước đây, Yozo chưa bao giờ tin vào tôn giáo. Thiên Chúa giáo, đấng Jehovah qua cái nhìn của nhân vật chỉ là những danh từ riêng để mô tả và gọi tên thế lực siêu nhiên chứ không mang cảm xúc tôn thờ, sùng bái như tín đồ. Thế mà lần này, Yozo đã tin vào quyền năng tha tội và cứu thoát của thần linh qua sự phóng chiếu vào bóng dáng người cha. Đây cũng chính là cơ chế hình thành nên tôn giáo. Sự đau khổ song đôi với ước muốn được thanh tẩy, được cứu vớt trong hoàn cảnh tuyệt vọng.
Trước đó, Yozo có một lần khác đã tìm cách đồng nhất với người cha của mình trong vô thức. Đó là khi bắt cặp tình nhân với Shizuko, Yozo đã muốn đóng vai trò của một người cha với đứa con riêng của nàng: “Đối với tình cảnh của tôi mà nói, lúc bấy giờ giúp tôi được chút gì chỉ có bé Shigeko. Con bé chẳng câu nệ gì, cứ gọi tôi là “cha””. Chi tiết này cho thấy rằng Yozo đang cố tìm cách thiết lập một sự liên kết đối với cô bé con riêng của tình nhân cũng tương tự như mối quan hệ cha con ở phương diện tinh thần. Bởi vì, bản chất thơ ngây của cô bé Shigeko đã làm cho Yozo bớt đi nỗi sầu thảm tuyệt vọng. Yozo không cần phải che giấu bản chất thật của mình đối với Shigeko. Cho nên, con bé đem lại cho Yozo cảm giác an toàn. Chỉ có thể có niềm tin vào cảm giác an toàn như vậy, mà Yozo mới dám thú nhận với cô bé câu trả lời chân thật đến rợn tóc gáy như sau: cha không thể được thần thánh ban phúc “Vì đã dám cãi lời cha mẹ”. Yozo đang nói với con bé bằng vị thế của một người cha đang định hướng cho con gái mình. Rõ ràng, Yozo đang hướng đến sự thiết lập thiêng liêng với Shigeko bằng hình thức giàu tình yêu thương hơn để thay thế cho ước vọng đối với người cha uy quyền của mình. Yozo, trong vô thức, đang tiến hành đồng nhất với vị thế của người cha mà cậu thấy căng thẳng và lo sợ. Tuy nhiên, câu trả lời của Shigeko đã làm thất bại sự liên kết tượng trưng trong vô thức của Yozo: “Shigeko muốn cha thật sự của mình quay về cơ”. Việc Shigeko phân biệt Yozo với cha của nó đã khiến cho Yozo phần nào hối hận vì sự từ chối chính người cha của mình. Và Yozo cũng nghiệm ra rằng, ngoài người cha uy quyền đó ra thì không còn ai có thể làm điểm tựa cho mình: “Tôi đã nghĩ chỉ có Shigeko là an toàn vậy mà con bé này đã cho tôi thấy cảnh “đuôi con bò đập chết con mòng hút máu trong lúc vô tình”. Tôi biết từ bây giờ trở đi mình cũng phải sợ hãi ngay cả chính con bé này nữa”.
Việc Yozo hồi hướng về lại người cha với sắc màu thần thánh cũng đồng nghĩa với sự hối hận, hối hận vì đã cố gắng thoát khỏi những thiết chế mà người cha đã dành để bao bọc con cái theo cách riêng của mình. Đó là mặc cảm tội lỗi của người con đối với người cha bị cự tuyệt của mình. Do có mặc cảm tội lỗi với người cha, mà trong đoạn trích trên, Yozo đã giấu không cho kể chuyện mình đã từng dan díu với đàn bà cho cha biết. Bởi lẽ, sa vào vòng tay đàn bà không phải là cách sống và cũng không phải bản chất của nhân vật. Cách sống bê tha đó chẳng qua là cách mà nhân vật phản ứng và phản kháng với những thiết chế quyền lực mà người cha của mình đã áp đặt lên mình. Chính do vậy mà Yozo vừa vô tình vừa cố ý gồng mình thoát ra khỏi sự kềm kẹp bởi quyền uy của người cha đang muốn ràng buộc con mình bằng sức mạnh uy nghiêm bất khả kháng. Bằng cách là cậu tìm cách phá hoại đời mình để phản ứng và phản kháng với uy quyền của cha mình. Khi cha mong muốn cậu học tập chăm chỉ, trở thành một con người kiểu mẫu thì cậu trở thành một tên lêu lổng. Khi cha mong muốn cậu sẽ là một công chức thì cậu lại biến mình thành một kẻ vô gia cư, một tên vô lại. Chính vì có mặc cảm tội lỗi đó, mà Yozo luôn nghĩ rằng mình sẽ bị thần linh trừng phạt và cả đời sẽ sống trong địa ngục. Địa ngục của Yozo là địa ngục tượng trưng cho khổ ải, đau đớn vĩnh cửu vì mất đi sự linh thiêng của nguồn cội. Khi nhìn thấy Shigeko đang cầu nguyện, Yozo đã cảm khái thốt lên rằng: “Ừ, đúng đấy. Đối với bé Shigeko thì ước gì Trời cũng cho đấy. Còn đối với cha thì chắc không được đâu”, “Vì đã không nghe lời mẹ cha”. Nỗi lo sợ bị đày ải trong cõi địa ngục thảm khốc đã khiến Yozo trở thành một tín đồ hướng về thánh thần để cầu xin một giao ước cứu rỗi.
Khi biết tin cha mình đã chết qua người anh, thì cũng là lần thứ hai trong đời, Yozo có cảm giác thương nhớ quê nhà tê tái tâm can. Cả hai lần nhớ đến quê hương này đều xuất phát từ cảm thức lưu lạc của kẻ mồ côi mất định hướng. Sâu sắc hơn thế nữa, cảm thức hoài hương chỉ là một tình cảm bề nổi được liên kết với cảm thức hướng vọng về người cha từ trong vô thức của Yozo. Ở lần thứ nhất, cảm giác tha hương nổi lên với tư cách là một ẩn dụ của sự mất liên kết với người cha như một hoài niệm nguyên sơ không thể lý giải. Còn trong cảm thức hoài hương lần này, rõ ràng quê nhà được đồng nhất với chính người cha được Yozo thể hiện trực tiếp trong sự liên tưởng của chính cậu. Đó là lúc hình bóng quê nhà vừa hiện lên trước mắt cậu thì cũng là lúc tâm trí Yozo liên kết tới cái chết của cha mình với nỗi sầu khổ vô biên.
Với tâm lý của kẻ mồ côi, Yozo đã rất đau khổ vì hối hận. Vì hối hận mà cậu đã oằn mình xuống gánh chịu mặc cảm tội lỗi tự trong thâm tâm. Không phải sau khi biết cha mất, Yozo mới có cảm giác tội lỗi. Nhưng trước đó, khi còn thơ ấu mặc cảm tội lỗi của cậu chỉ là cảm giác hổ thẹn. Hổ thẹn vì sự dối trá của bản thân mình, hổ thẹn vì lối sống bê tha đến mức ti tiện của mình. Nhưng càng về sau, mặc cảm tội lỗi của Yozo mới chồng chất đến mức giày xéo tâm can. Điều đáng nói là nhân vật không thể gọi tên, không thể giải thích được rằng tội lỗi của mình là cái gì: “Vậy trái nghĩa của tội lỗi là cái gì mới được chứ?”; “Còn nỗi bất hạnh của tôi tất cả đều do tội ác của tôi mà ra”; “Hỡi thần linh, không có sức phản kháng phải chăng là tội lỗi?”. Cảm giác về tội lỗi của Yozo từ đây đã chuyển sang phạm trù siêu hình. Và đó là dấu ấn bất khả tri của tội lỗi tông truyền của loài người. Chính vì không thể có một điểm tựa nào khác cũng như sự sám hối chồng chất mà Yozo mất luôn khả năng tri nhận hạnh phúc và cả khổ đau. Một trong những điểm cuối cùng mà cậu kết luận về đời mình là: “Tôi bây giờ không hạnh phúc cũng chẳng bất hạnh”.
Thất lạc cõi người là một tiểu thuyết có tính chất tự truyện có thể có nhiều hư cấu khác mà ta không thể biết. Nhưng ẩn ức với người cha trong mặc cảm Oedipus mà tác giả thể hiện qua nhân vật Yozo thì tuyệt đối không thể là giả tưởng, hư cấu được. Lần tìm lại những trang tiểu sử của ông, chúng tôi phát hiện ra rằng, ngay từ thuở ấu thơ Osamu đã hoàn toàn bị cách biệt với mẹ ruột và được giao cho người dì tên Kiye nuôi dưỡng. Khi ông đến tuổi nhi đồng, người dì này đã về ở chung với người con gái của mình và trả Osamu lại cho gia đình Tsushima. Khi trở về với gia đình, ông đã nếm trải sự lạnh lùng đến khắc nghiệt của cha mẹ lẫn anh em ruột. Một người hầu gái tên Take đã chăm sóc ông cho tới khi ông sắp vào trung học rồi cô ấy đi lấy chồng. Điều này giải thích tại sao Yozo mang cảm thức mồ côi, có mối quan hệ bất thỏa với cha. Rõ ràng, những trang tiểu sử của ông đã hằn lên những kinh nghiệm đau thương và đã đi vào tác phẩm của ông với tư cách là dấu ấn tự truyện chân thật nhất.
Tuy nhiên, mặc cảm Oedipus trong cuốn Thất lạc cõi người không chỉ dừng lại ở tính chất là vô thức cá nhân. Mà mặc cảm này được thể hiện trong truyện còn mang trong đó tính chất vô thức xã hội. Chính vì vậy mà những học giả phương Tây đều xem tác phẩm này là con đường chân thật để tìm hiểu tính cách và tâm lý của người Nhật Bản. Chúng tôi sẽ triển khai tiếp luận đề này trong mục tiếp theo dưới đây.
2. Mặc cảm Oedipus của xã hội thiếu vắng người cha thiêng liêng
Thất lạc cõi người không chỉ là ẩn ức cá nhân mà còn là ẩn ức chung của xã hội Nhật Bản những năm đầu tiên thời hậu chiến. Tức là, mặc cảm Oedipus trong thẳm sâu nội tâm của Osamu được khơi gợi và vận hành chính nhờ hiện thực xã hội Nhật Bản những năm tháng hậu chiến điêu tàn. Nếu nói như H. de Balzac rằng: mỗi nhà văn là một thư ký trung thành của thời đại mình, thì Osamu là nhà văn đã ghi lại rất trung thành và vi tế những xung năng vô thức của Nhật Bản lúc bấy giờ.
Chúng ta biết rằng hoàng gia Nhật Bản là nền quân chủ di truyền lâu đời nhất thế giới. Mối quan hệ giữa hoàng gia Nhật Bản với thánh thần được duy trì tạo thành một niềm tin hiển nhiên mang màu sắc thần thoại. Trước hết là thần thoại khai thiên lập địa của Nhật Bản kể về nữ thần mặt trời Amaterasu Oomikami (天照大神/天照大御神 Thiên Chiếu Đại Thần/Thiên Chiếu Đại Ngự Thần). Amaterasu được miêu tả trong Kojiki (Cổ Sự Ký) là thần mặt trời, sinh ra từ Izanagi, cùng với em trai bà, thần gió bão Susano, và thần Mặt Trăng Tsukuyomi. Trong Kojiki, Amaterasu được miêu tả là vị thần tỏa ra ánh sáng và thường được nói đến như thần mặt trời vì hơi ấm và lòng nhân ái đối với những người thờ phụng bà. Một số huyền thoại khác nói rằng Amaterasu sinh ra từ nước. Bà đã bảo hộ và dạy cho con người nghề canh tác lúa gạo và lúa mì, trồng dâu, nuôi tằm và ươm tơ, dệt vải. Cũng theo ghi chép của Cổ Sự Ký, nữ thần Amaterasu chính là tổ mẫu trực hệ với Thiên hoàng Jimmu, Thiên hoàng đầu tiên - người khai sinh ra đất nước Nhật Bản. Đánh dấu cho thân thế phi thường này là tam chủng thần khí gồm có: gương, kiếm và viên ngọc. Tất cả các Thiên hoàng đời sau đều nhận mình là hậu duệ của vị khai quốc thánh hoàng này và là hậu duệ của nữ thần Amaterasu. Và các Thiên hoàng, có một thời kỳ dài cũng là giáo chủ của Thần đạo. Nhất là trong thời đại đế quốc Nhật Bản, giữa chính quyền và thần quyền có sự liên kết chặt chẽ nhằm tạo ra sự trung thành thiêng liêng với Thiên hoàng. Điều đó, từ trong vô thức đã biến Thiên hoàng thành một người cha quyền uy có tính chất thần bí trong toàn xã hội Nhật Bản. Sự hiện diện của Thiên hoàng đã cố kết tâm lý xã hội về cùng một mối: sự ngưỡng vọng và phục tùng. Từ vô thức của cá nhân, mặc cảm Oedipus này đã cộng hưởng lại thành vô thức của một bộ phận xã hội và hướng họ cùng về chung trạng thái tinh thần và hành động. Niềm tin thần quyền ấy cho họ sức mạnh và quyết tâm sắt đá để chinh phục mọi khó khăn, thách thức. Thành tựu của họ là minh chứng cho tính cách ấy. Nhưng vào năm 1946, Thiên hoàng Hirohito trong Nhân gian tuyên ngôn bị ép phải từ bỏ quan niệm về akitsumikami (現御神 Hiện Ngự Thần), tính chất thần thánh trong hình hài con người, và tuyên bố quan hệ của ông với nhân dân không dựa trên một tư tưởng thần thoại học như thế mà dựa trên sự tin cậy phát triển như một gia đình mang tính lịch sử: “Mối quan hệ giữa Trẫm và các thần dân luôn luôn là dựa vào lòng tin và sự thương yêu lẫn nhau, chớ không phải dựa vào các huyền thoại và dị đoan. Quả nhân xin khẳng định rằng quan niệm về hoàng đế là thần thánh và người Nhật Bản là dân tộc siêu hạng so với các dân tộc khác và có trọng trách là thống trị thế giới này là một quan niệm sai lầm”2. Từ đây, Thiên hoàng mất hết vai trò và đánh rơi ngai vàng quyền lực thực tế của mình để trở thành một biểu tượng của quốc gia và sự thống nhất dân tộc. Ý niệm về người cha nâng đỡ của họ bị giải thiêng hoàn toàn.
Sự tổn thương đau đớn này được văn chương hậu chiến Nhật ghi lại rất chân thực. Văn học thời hậu chiến Nhật Bản đã trở thành một bức tranh tâm lý sinh động chung cho đất nước thời đó. Trong Thất lạc cõi người, người cha được kể lại với ánh xạ về một Thiên hoàng quyền uy, dù chỉ là ảo ảnh. Chúng ta có thể thấy rằng, hình ảnh người cha trong tâm tưởng của Yozo không được miêu tả ở vị thế của mối quan hệ cá nhân như cách mà Franz Kafka dùng để miêu tả hình ảnh người cha của mình. Mà ngược lại, người cha của Yozo được nhắc tới ở vị thế của một người bậc trên có sức ảnh hưởng như quyền năng của số phận. Để biện luận cho cách nhìn này, chúng tôi dựa trên các luận điểm sau:
Thứ nhất, người cha của Yozo được đẩy về cực xã hội, quan hệ huyết thống được liên kết với quan hệ xã hội. Tính tượng trưng cho Thiên hoàng trong hình ảnh người cha của Yozo được đẩy về phía của số đông tha nhân.
Thứ hai, người cha trong vô thức của Yozo được liên kết với hình ảnh và quyền năng của thần linh. Điều này giống với cách người Nhật trong thời điểm lịch sử lúc ấy nhìn nhận và ngưỡng vọng về Thiên hoàng của mình.
Thứ ba, sự bất tuân của Yozo ngoài ý nghĩa là một cố gắng để thay đổi số phận thì đó còn là một lý tưởng đi tìm tự do và đi tìm bản sắc. Mà thực chất là sự thất vọng đau đớn vì sụp đổ hình tượng Thiên hoàng theo đúng tâm lý và tính cách kiểu Nhật Bản được gọi là không có sự phụ thuộc (thuật ngữ tâm bệnh học là amae「甘え」 mà nhà tâm thần học hàng đầu Nhật Bản là Takeo Doi quảng diễn).
Chúng ta quay trở lại với cái chết của người cha và tâm thế của Yozo sau khi biết được sự kiện ấy. “Sau khi biết cha mình đã chết, tôi cảm thấy mình hụt hẫng”. Như đã phân tích, cảm giác đó của Yozo không phải là cảm giác thở phào nhẹ nhõm của kẻ đã trút cạn gánh nặng. Mà đó là tâm lý mất mát và mất điểm tựa. Vì mất mát, mất điểm tựa nên linh hồn của cậu mới trở nên trống rỗng một cách tang thương. Dù lờ mờ nhận ra rằng số phận của mình là sự chạy trốn khỏi người cha, là sự bất dung với người cha nhưng Yozo vẫn thốt ra lời nói chân thật như lời ai điếu cho tâm hồn mình: “Quả thật tôi thấy trống trải. Và rồi tôi mất luôn khả năng đau khổ”. Những dòng này cho ta biết rằng, tự trong thẳm sâu tâm can mình, Yozo thấy mình không hoàn toàn đứng ngoài cái chết của người cha. Trong vô thức, Yozo thấy mình phạm tội, tội của kẻ đã hại cha. Theo nguyên lý phủ định bậc hai trong tâm bệnh học, vô thức của Yozo thừa nhận rằng: cha cậu chết chỉ vì cậu đã không nghe lời cha và cố gắng dẹp bỏ quyền uy của ông. Câu nói sám hối “vì đã không nghe lời mẹ cha” của Yozo giống như một câu ngạn ngữ dân gian Nhật Bản: “Cha mẹ chết rồi mới thấy mình đắc tội”. Tâm thế này cũng là tâm thế dị căn của người Nhật khi hình tượng Thiên hoàng bị hạ bệ. Tức là nỗi đau khổ chung của toàn xã hội được khoác chiếc áo sám hối của vô thức cá nhân. Cho nên nỗi đau khổ đó được mang mặt nạ của sự sám hối.
Hiểu theo nghĩa ẩn dụ, hình tượng người cha của Yozo và quyền lực của ông là biểu tượng của xã hội phụ quyền kiểu Nhật Bản và các nguyên tắc của nó. Điều này hoàn toàn khác với hình tượng người cha của Kafka trong Thư gửi bố. Người cha trong tâm tưởng của Kafka là một người cha hùng cường có sức mạnh bóp nghẹt mọi thế lực đi ngược lại với sức mạnh gần như phi lý. Chính vì vậy mà bản thân nhà văn Do Thái này rất nhạy cảm với những chủ đề phi lý. Minh chứng cho sự suy yếu của người cha ấy là việc Yozo có thể tự do phần nào trong việc chạy theo lối sống của mình mà ông không hề có cách gì trừng phạt, thậm chí chỉ là can ngăn ngoài hình thức ngăn cản lấy lệ với bức thư lời lẽ dài dòng mà nghiêm khắc. Khi Yozo đã khẩn cầu đến ông thì ông không thể che chở cho cậu chỉ vì ông đã suy yếu, không đủ sức đem lại sự bình an cho đứa con được nữa. Khi biết cha mình đã chết, Yozo thấy mình “trống rỗng”, “trống trải” và “mất luôn khả năng đau khổ”. Tại sao lại có những cảm giác đó? Đó không chỉ là cảm giác cá nhân mang tính tự truyện của Osamu. Trong trường ẩn dụ của mặc cảm Oedipus này, rõ ràng, đó là cảm thức chung của xã hội về người cha khác chưa/ không kịp xác lập vị thế mới của mình. Tức là, sự chờ đợi về một đấng Cứu rỗi khác chưa đến hoặc không bao giờ xuất hiện. Khi cha chết, người anh của Yozo đã dang rộng vòng tay của mình để đón cậu. Nhưng người anh này, tuy nhân danh người cha nhưng không thể nào có uy quyền như người cha, nên không có khả năng thiết lập một trật tự như người cha. Dù người anh này nhân danh người cha, nhưng Yozo không có cảm giác được nương tựa, được che chở.
Cảm giác và cảm thức hổ thẹn của họ gắn bó chặt chẽ với tư duy về sự phụ thuộc. Khi một người không có sự cộng thông với cộng đồng thì cảm giác hổ thẹn đó nổi lên và liên kết mạnh mẽ với nỗi sợ hãi. Cả cuộc đời của Yozo là một chuỗi những nỗ lực để tìm cách được hòa nhập và tồn tại trước nhân thế. Tuy nhiên, mỗi lúc, Yozo lại cảm thấy cậu và thế giới này thật xa lạ. Không dưới ba lần, cậu đã gọi tên tất cả mọi người bằng khái niệm: “tha nhân”. Hoạt động tri nhận về thế giới của Yozo thường được gói gọn trong những từ bất khả kiểu như: “không dự tưởng được”, “không thể hiểu nổi”, “chẳng tài nào hiểu được”, “không biết”, “không biết ra sao”, “không hiểu”, “xa lạ”, “lạ lùng”, “kỳ lạ”, “bí ẩn”… Những lớp từ này cho thấy rằng Yozo hoàn toàn không có sự cộng thông đối với những người xung quanh và với cuộc sống của chính mình: “Tôi không dự tưởng được cuộc sống của một con người”; “Tôi leo lên leo xuống cái cầu vượt nơi ga dừng, hoàn toàn không hay biết nó được làm để cho người ta băng ngang qua cầu sắt”; “Tôi cũng chưa từng biết đói ăn là như thế nào”; “Tôi hoàn toàn không biết cái cảm giác “đói bụng” là như thế nào cả”; “Vì con người không ăn sẽ chết, chính vì vậy phải làm việc và phải ăn cơm, đối với bản thân tôi thật là nan giải, khó hiểu”; “Có nghĩa là tôi không hiểu”; “Tôi cũng chẳng biết nữa”; “Càng suy nghĩ tôi lại càng không hiểu”; “Tôi không biết mình nên nói cái gì và nói như thế nào cả”; “Tôi cũng không thể nào hiểu được họ khổ đau thế nào, suy nghĩ ra làm sao nữa”; “Tôi cũng không thể hiểu hết con người của cha mẹ mình”…
Trong Thất lạc cõi người, Osamu đã dùng rất nhiều lần những từ cảm giác hoặc cách diễn đạt liên quan đến nỗi sợ: “lo sợ”, “sợ”, “sợ hãi”, “hãi sợ”, “kinh hoàng”, “bất an”, “khổ lụy”, “khổ đau”, “đau khổ”, “run cầm cập”, “dựng tóc gáy”, “run rẩy choáng váng”, “bị chấn động mạnh, “muốn phát điên lên”, “thống khổ”, “u uất”,… Có đến hơn ba lần, Yozo luôn nhắc đến tâm thế phòng vệ của mình đối với tha nhân. Cậu sợ hãi vì cậu thấy mình và họ khác loại nhau và cách trở không thể nào thấu hiểu nhau. Sự sợ hãi này xuất phát từ tâm thế phòng vệ của nhân vật khi ở trong một cộng đồng khác mà nhân vật không thuộc về. Yozo tuy chủ động đi ra khỏi phạm vi của chính mình nhưng sự chủ động đó lại bị thúc ép bởi ngoại cảnh là quyền uy của người cha cho nên cậu mang thêm nỗi khiếp sợ người lạ. Vùng đất lạ giúp cậu tránh được cảm giác căng thẳng với người cha nhưng lại đem cho cậu cảm giác âu lo vì sự lạc loài. Dù là với những đứa trẻ nhỏ, hay là đối với những người phụ nữ mà cậu ta đã quen biết. Ngay cả một đứa yếu đuối hơn cậu như Takeichi mà cũng gây cho cậu cảm giác hoảng hốt, bấn loạn vì họ có thể đọc vị được những trò hề của chính cậu. Hoặc là cô bé Shigeko đã có lúc cho cậu cảm giác an toàn mà giờ cũng làm cho cậu “phải sợ hãi ngay cả chính con bé này”. Những con người ở đó làm cho cậu càng thêm chấn động trầm trọng.
Con người mang căn tính sợ hãi con người như Yozo là một hình tượng thâm nghiêm ẩn dụ cho mối quan hệ xã hội mất đi sự cộng thông, sự giao cảm khi mà biểu tượng chung của lòng tin và giá trị không còn sức mạnh để cố kết cộng đồng. Đây chính là hiệu ứng tâm lý chấn thương của xã hội Nhật Bản thời hậu chiến. Với vị thế kẻ chiến bại, Nhật Bản và cấu trúc tổ chức xã hội của nó đã bị văn hóa phương Tây làm xáo động không ít. Sự xuất hiện đột ngột có tính cưỡng bức của văn hóa Âu - Mỹ theo khuynh hướng quân sự làm cho người Nhật mất đi sự tương thông trong cảm giác để đi đến chỗ xa lạ nhau. Điều này được nhà tâm thần học hàng đầu Nhật Bản là Takeo Doi chứng minh trong cuốn Giải phẫu sự phụ thuộc ở mục Nỗi sợ hãi người khác từ trang 135 đến trang 142. Theo đó, ông cho rằng, nỗi sợ hãi người khác là một cơn rối loạn thần kinh mang tính lịch sử với sự thất bại của chủ nghĩa đế quốc Nhật. Ông cho rằng: “sự xuất hiện lo âu khi giao tiếp với người khác chứa những nhân tố không thể giải thích đơn thuần bằng mối quan hệ giữa mẹ và con thời thơ ấu, vì ta thường quan sát thấy một nỗi lo âu tương tự xuất hiện ở cá nhân rời khỏi cộng đồng thân thuộc đến sống ở một cộng đồng mới”3 vì: “các quan hệ xã hội ngày nay không còn cho phép cá nhân dễ dàng amaeru như trong quá khứ. Hoặc là có thể xã hội ấy đã trở nên quá phức tạp khiến không còn dễ khám phá ra những luật lệ để ta có thể dễ dàng amaeru”4.
Osamu rõ ràng là một nhà văn thiên tài. Với trái tim nhạy cảm và sự suy tưởng mang tầm triết học, ông đã xây dựng nên một hình tượng nghệ thuật mang dấu ấn thương tích cá nhân để dự báo cho tương lai của một xã hội. Ông đã dự báo vấn đề bằng cách là tìm ra nguyên nhân của thực trạng loạn lạc trong bình yên đó. Nguyên nhân chính theo ông là sự thất vọng của một niềm tin vĩnh hằng vào biểu tượng Thiên hoàng. Nhưng sâu sắc hơn nữa, đó là thiết chế xã hội phụ quyền kiểu Nhật Bản đã không còn tác dụng toàn diện, không còn sức mạnh kết nối thiêng liêng đối với cộng đồng. Nỗi đau khổ và thất vọng đó hằn sâu vào vô thức của những con người vừa bước qua cuộc chiến cho đến nay. Mặt khác, hình tượng Yozo cũng mang tính dự báo hiện thực xã hội cho sự ra đời của một loại người mới trong xã hội Nhật Bản thời hiện đại. Đó là kiểu người bên lề xã hội (Hikikomori).
Qua phép đọc tâm phân học, chúng ta hiểu được rằng Thất lạc cõi người tại Nhật Bản vì sao được yêu thích, được đồng cảm dù rằng đây là tác phẩm chỉ có thể ý hội chứ không thể ngôn truyền. Dưới lớp vô thức cá nhân đó còn chồng chất thêm lớp nghĩa của xã hội, nên hành trình tự diệt của Yozo, còn mang thêm ý nghĩa triết học về Hạnh Phúc, về Sự Sống, và Tự Do của bản thể.
N.H.T
(TCSH438/08-2025)
-----------------
1 菅原克 (2005)、精神分析による人間資格論、tr.14.
2 鈴木恵子(2015)、日本近代思想史、角川出版社、東京.
3 Takeo Doi, Giải phẫu sự phụ thuộc, tr.139.
4 Takeo Doi, Sđd, tr.140.
Tải mã QRCode
TRẦN ANH VINHÂm vang của những sự kiện xẩy ra năm Ất Dậu (1885) không những vẫn còn đọng trong tâm trí người dân núi Ngự mà còn được ghi lại trong một số tác phẩm. Bài vè “Thất thủ Kinh đô” do cụ Mới đi kể rong hàng mấy chục năm ròng là một tác phẩm văn học dân gian, được nhiều người biết và ngưỡng mộ. Riêng Phan Bội Châu có viết hai bài:+ Kỷ niệm ngày 23 tháng Năm ở Huế (Thơ)+ Văn tế cô hồn ngày 23 tháng Năm ở Kinh thành Huế.
HOÀNG CÔNG KHANHCó một thực tế: số các nhà văn cổ kim đông tây viết tiểu thuyết lịch sử không nhiều. Ở Việt Nam càng ít. Theo ý riêng tôi nguyên nhân thì nhiều, nhưng cơ bản là nhà văn viết loại này phải đồng thời là nhà sử học, chí ít là có kiến thức sâu rộng về lịch sử. Cũng nhiều trường hợp người viết có đủ vốn liếng cả hai mặt ấy, nhưng hoặc ngại mất nhiều công sức để đọc hàng chục bộ chính sử, phải sưu tầm, dã ngoại, nghiên cứu, đối chiếu, chọn lọc hoặc đơn giản là chưa, thậm chí không quan tâm đến lịch sử.
TRƯƠNG ĐĂNG DUNG Tặng Đỗ Lai ThuýChủ nghĩa hiện đại là kết quả của những nỗ lực hiện đại hoá đời sống và tư duy xẩy ra từ những năm cuối của thế kỷ XIX, ở Châu Âu. Những thành tựu nổi bật của khoa học tự nhiên, của triết học, xã hội học và tâm lí học đã tác động đến cách nghĩ của con người hiện đại trước các vấn đề về tồn tại, đạo đức, tâm lí. Tư tưởng của Nietzsche, Husserl, hay Freud không chỉ ảnh hưởng đến tư duy hiện đại mà tiếp tục được nhắc đến nhiều ở thời hậu hiện đại.
ĐẶNG TIẾNTân Hình Thức là một trường phái thi ca hiện đại được phổ biến từ năm bảy năm nay, phát khởi do Tạp Chí Thơ, ấn hành tại Mỹ, chủ yếu từ số 18, xuân 2000 “chuyển đổi thế kỷ”, và được nhiều nhà văn, nhà thơ trong và ngoài nước hưởng ứng. Tên Tân Hình Thức dịch từ tiếng Anh New Formalism, một trường phái thơ Mỹ, thịnh hành những năm1980 - 1990.
NGUYỄN ĐĂNG ĐIỆP Một ngày kia, cát bụi vùng Hoan Diễn đã sinh tạo một “kẻ ham chơi”. Y cứ lãng đãng trong đời như một khách giang hồ mang trái tim nhạy cảm, một trái tim đầy nhạc với những đốm lửa buồn. Để rồi sau những cuộc say tràn cung mây, khi dòng cảm hứng chợt bùng lên từ những vùng u ẩn nằm sâu trong cõi nhớ, những giai âm ùa về như những luồng điện làm vỡ òa bí mật: có thương có nhớ có khóc có cười- có cái chớp mắt đã ngàn năm trôi. Đây là những câu thơ khép lại một trong những bài thơ hay nhất của Nguyễn Trọng Tạo: Đồng dao cho người lớn(1).
NGUYỄN KHẮC PHÊTừ lâu, ở Huế, nhiều người đã biết tiếng ba công chúa, ba nữ sĩ (Tam Khanh) con vua Minh Mạng, em gái nhà thơ nổi tiếng Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, trong đó MAI AM là người được nhắc đến nhiều nhất. Mai Am nổi tiếng trước hết vì tài thơ và cùng vì cuộc đời riêng không được may mắn của bà, tuy bà là người sống thọ nhất trong “Tam Khanh”.
LÊ DỤC TÚCùng với nghệ thuật tiếp cận và phản ánh hiện thực, nghệ thuật miêu tả và khắc họa chân dung nhân vật, nghệ thuật châm biếm và sử dụng ngôn ngữ cũng là một trong những nét nghệ thuật đặc sắc ta thường gặp trong các phóng sự Việt Nam 1932 - 1945.
NGUYỄN VĂN DÂNTrong thế kỷ XX vừa qua, thế giới, đặc biệt là thế giới phương Tây, đã sản sinh ra biết bao phương pháp phục vụ cho nghiên cứu văn học, trong đó phương pháp cấu trúc là một trong những phương pháp được quan tâm nhiều nhất.
AN KHÁNHHai mươi tám năm kể từ ngày chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, đủ để một thế hệ trưởng thành, một dòng thơ định vị. Tháng 3 vừa qua, Hội Văn nghệ Hà Nội và nhóm nhà thơ - nhà văn - cựu binh Mỹ có cuộc giao lưu thú vị, nhằm tìm ra tiếng nói "tương đồng", sự thân ái giữa các thế hệ Mỹ - Việt thông qua những thông điệp của văn chương.
TRẦN ĐÌNH SỬ Bạn đọc Việt Nam vốn không xa lạ với phê bình phân tâm học hơn nửa thế kỷ nay, bởi nó đã bắt đầu được giới thiệu vào nước ta từ những năm ba mươi, bốn mươi thế kỷ trước. Nhưng đáng tiếc nó đã bị kỳ thị rất nặng nề từ nhiều phía. Giống như nhân loại có thời phản ứng với Darwin vì không chấp nhận lý thuyết xem con người là một loài cao quý lại có thể tiến hóa từ một loài tầm thường như loài khỉ, người ta cũng không thể chấp nhận lý thuyết phân tâm học xem con người - một sinh vật có lý trí cao quý lại có thể bị sai khiến bởi bản năng tầm thường như các loài vật hạ đẳng!
PHẠM ĐÌNH ÂN(Nhân kỷ niệm lần thứ 20 ngày mất của Thế Lữ 3-6-1989 – 3-6-2009)Nói đến Thế Lữ, trước tiên là nói đến một nhà thơ tài danh, người góp phần lớn mở đầu phong trào Thơ Mới (1932-1945), cũng là nhà thơ tiêu biểu nhất của Thơ Mới buổi đầu. Ông còn là cây bút văn xuôi nghệ thuật tài hoa, là nhà báo, dịch giả và nổi bật là nhà hoạt động sân khấu xuất sắc, cụ thể là đưa nghệ thuật biểu diễn kịch nói nước nhà trở thành chuyên nghiệp theo hướng hiện đại hóa.
THÁI DOÃN HIỂUPhàm trần chưa rõ vàng thauChân tâm chẳng biết ở đâu mà tìm. VẠN HẠNH Thiền sư
HỒ THẾ HÀ Thi ca là một loại hình nghệ thuật ngôn từ đặc biệt. Nó là điển hình của cảm xúc và tâm trạng được chứa đựng bởi một hình thức - “hình thức mang tính quan niệm” cũng rất đặc biệt. Sự “quái đản” trong sử dụng ngôn từ; sự chuyển nghĩa, tạo sinh nghĩa trong việc sử dụng các biện pháp tu từ; sự trừu tượng hoá, khái quát hoá các trạng thái tình cảm, hiện thực và khát vọng sống của con người; sự hữu hình hoá hoặc vô hình hoá các cảm xúc, đối tượng; sự âm thanh hoá theo quy luật của khoa phát âm thực nghiệm học (phonétique expérimentale)...đã làm cho thi ca có sức quyến rũ bội phần (multiple) so với các thể loại nghệ thuật ngôn từ khác.
LÊ XUÂN LÍTHỏi: Mã Giám Sinh sau khi mua được Kiều, Mã phải đưa Kiều đi ròng rã một tháng tròn mới đến Lâm Tri, nơi Tú Bà đang chờ đợi. Trên đường, Mã đâm thèm muốn chuyện “nước trước bẻ hoa”. Hắn nghĩ ra đủ mưu mẹo, lí lẽ và hắn đâm liều, Nguyễn Du viết: Đào tiên đã bén tay phàm Thì vin cành quít, cho cam sự đờiĐào tiên ở đây là quả cây đào. Sao câu dưới lại vin cành quít? Nguyễn Du có lẩm cẩm không?
CHU ĐÌNH KIÊN1. Có những tác phẩm người đọc phải thực sự “vật lộn” trên từng trang giấy, mới có thể hiểu được nhà văn muốn nói điều gì. Đó là hiện tượng “Những kẻ thiện tâm” (Les Bienveillantes) của Jonathan Littell. Một “cas” được xem là quá khó đọc. Tác phẩm đã đạt hai giải thưởng danh giá của nước Pháp là: giải Goncourt và giải thưởng của Viện hàn lâm Pháp.
PHONG LÊSinh năm 1893, Ngô Tất Tố rõ ràng là bậc tiền bối của số rất lớn, nếu không nói là tất cả những người làm nên diện mạo hiện đại của văn học Việt Nam thời 1932-1945. Tất cả - gồm những gương mặt tiêu biểu trong phong trào Thơ mới, Tự Lực văn đoàn và trào lưu hiện thực đều ra đời sau ông từ 10 đến 20 năm, thậm chí ngót 30 năm.
HẢI TRUNGHiện tượng ngôn ngữ lai tạp hay gọi nôm na là tiếng bồi, tiếng lơ lớ (Pidgins và Creoles) được ngành ngôn ngữ học đề cập đến với những đặc trưng gắn liền với xã hội. Nguồn gốc ra đời của loại hình ngôn ngữ này có nhiều nét khác biệt so với ngôn ngữ nói chung. Đây không chỉ là một hiện tượng cá thể của một cộng đồng ngôn ngữ nào, mà nó có thể phát sinh gắn liền với những diễn biến, những thay đổi, sự phát triển của lịch sử, xã hội của nhiều dân tộc, nhiều quốc gia khác nhau.
BÙI NGỌC TẤN... Đã bao nhiêu cuộc hội thảo, bao nhiêu cuộc tổng kết, bao nhiêu cuộc thi cùng với bao nhiêu giải thưởng, văn chương của chúng ta, đặc biệt là tiểu thuyết vẫn chẳng tiến lên. Rất nhiều tiền của bỏ ra, rất nhiều trí tuệ công sức đã được đầu tư để rồi không đạt được điều mong muốn. Không có được những sáng tác hay, những tác phẩm chịu được thử thách của thời gian. Sự thất thu này đều đã được tiêu liệu.
NGUYỄN HUỆ CHICao Bá Quát là một tài thơ trác việt ở nửa đầu thế kỷ XIX. Thơ ông có những cách tân nghệ thuật táo bạo, không còn là loại thơ “kỷ sự” của thế kỷ XVIII mà đã chuyển sang một giọng điệu mới, kết hợp tự sự với độc thoại, cho nên lời thơ hàm súc, đa nghĩa, và mạch thơ hướng tới những đề tài có ý nghĩa xã hội sâu rộng.
NGUYỄN TRƯƠNG ĐÀNĐã nhiều sử liệu viết về cuộc xử án vua Duy Tân và các lãnh tụ khởi xướng cuộc khởi nghĩa bất thành tháng 5-1916, mà trong đó hai chí sĩ Thái Phiên - Trần Cao Vân là hai vị đứng đầu. Tất cả các sử liệu đều cho rằng, việc hành hình đối với Thái Phiên, Trần Cao Vân, Tôn Thất Đề, Nguyễn Quang Siêu diễn ra vào sáng ngày 17-5-1916. Ngay cả trong họ tộc hai nhà chí sĩ, việc ghi nhớ để cúng kỵ, hoặc tổ chức kỷ niệm cũng được tính theo ngày như thế.