NGUYỄN PHƯỚC HẢI TRUNG
(Trích đoạn tuồng lịch sử)
LTS: Từ thành công của Cách mạng Tháng Tám đến thành công của “Tuần Lễ Vàng” năm 1945, lịch sử Việt Nam đã chứng minh rõ về sức mạnh của quần chúng nhân dân trong cách mạng và khối đại đoàn kết dân tộc trong thực tiễn. Những dấu mốc ấy đã để lại bài học lớn lao đầy ý nghĩa về xây dựng, củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc.
Cố vấn Vĩnh Thụy (cựu hoàng Bảo Đại) phát biểu trong buổi đấu giá tranh Chủ tịch Hồ Chí Minh trong ngày bế mạc Tuần lễ Vàng (Ảnh tư liệu)
Kịch bản tuồng lịch sử “Tuần Lễ Vàng 1945” nhằm gợi nhắc về những trang đẹp về ký ức của sức mạnh của lòng dân. Đặc biệt là những quyết sách thể hiện tầm nhìn xa trông rộng của Hồ Chủ tịch trong việc gìn giữ những di sản văn hóa của dân tộc.
Những trăn trở, ưu tư qua các nhân vật chính trong vở tuồng: triều Bảo Đại với nỗi ưu tư về thoái vị hay tiếp tục giữ ngôi, kháng cự cách mạng; hoàng gia nhà Nguyễn với nỗi băn khoăn có nên đến với Tuần Lễ Vàng hay từ chối bỏ qua; Hồ Chủ tịch với niềm trăn trở có nung chảy những báu vật vàng bạc để bổ sung quốc khố hay giữ lại cùng năm tháng v.v. Tất cả được khai thác để trở thành xung đột và hành động kịch. Đó là những nút thắt có thực trong lịch sử và trở thành những nút thắt quan trọng của kịch bản. Kịch bản do tác giả Nguyễn Phước Hải Trung biên kịch và chuyển thể đang được tổ chức dàn dựng và dự kiến công diễn vào tháng 10/2018.
Nhân kỷ niệm 73 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 02/9 (1945 - 2018), Tạp chí Sông Hương trân trọng giới thiệu trích đoạn (hai cảnh) trong kịch bản này.
S.H
CẢNH III: LỄ THOÁI VỊ
Trước Ngọ Môn tuyên chiếu thoái vị
Rời ngai vàng làm một công dân
Bối cảnh: Ngọ Môn tháng 8/1945.
Lễ thoái vị, vua Bảo Đại và các thành viên đại diện Chính phủ Lâm thời cùng tiến hành nghi thức thoái vị. Lễ thoái vị diễn ra, vua Bảo Đại mặc áo dài vàng, đội khăn vàng, tuyên Chiếu trước dân chúng...
Trước buổi lễ, vua Bảo Đại và Tổng lý Ngự tiền Văn phòng Phạm Khắc Hòe có cuộc trao đổi nhỏ, bên cạnh là các đại thần, hoàng thân.
Vua Bảo Đại: Này, ông Hòe
Hôm trước, tại điện Kiến Trung,
Trẫm chính thức họp bàn (với) đại diện
lâm thời Chính phủ
Đã tính suy, vạch nội dung rất kỹ
Về tổ chức buổi thoái vị hôm nay
Ngoài ra, trẫm cũng tự nguyện cam kết
Sẽ chuyển giao những báu vật của triều đình
Những kim ấn, kim sách cùng nhiều đồ quý khác [1]
Phạm Khắc Hòe: Thưa hoàng thượng, điều này thần biết
Đó cũng là thuận lý hợp tình
Cách mạng hiểu: sự chân thành ở hoàng thượng
Tả Tham Tri: Hoàng thượng quả đấng anh minh
Biết rõ muôn phần phân tích thế cuộc
Vua Bảo Đại: Giờ thì trẫm đã yên lòng vững dạ
(Để) bình tâm tuyên chiếu trước muôn dân
Càn khôn chứng giám
Nhật nguyệt soi cùng
Trẫm xin cáo yết với núi sông hùng vĩ
Trẫm xin cúi đầu trước liệt vị anh linh
Để xin nguyện làm một thần dân
Của một nước tự do, độc lập...
Phạm Khắc Hòe: Hoàng thượng sợ Nam - Bắc tương tàn
Tả Tham Tri: Hoàng thượng lo muôn dân thống khổ
(Trần Huy Liệu, Cù Huy Cận và các thành viên đại diện Chính phủ Lâm thời xuất hiện).
Trần Huy Liệu: Xin chào ngài Vĩnh Thụy, xin chào các ngài!
(Các vị khác đều gật đầu chào nhau)
Vua Bảo Đại: Thay mặt triều đình, xin chào các vị
Trần Huy Liệu: Hôm nay, tôi Trần Huy Liệu,
Thay mặt quốc dân đồng bào,
Thay mặt chính phủ mới,
Đến đây cùng tổ chức Lễ thoái vị
Vua Bảo Đại: Hôm nay tuyên chiếu thoái vị
Tuy lòng tôi không khỏi ngậm ngùi
Nhưng chí đã quyết (tất thảy) vì quốc gia, dân tộc
Trần Huy Liệu: Chính phủ Việt Nam hiểu tâm tư đó
Xin mời ông tuyên chiếu với muôn dân.
(Phạm Khắc Hòe dâng lên bản chiếu. Vua Bảo Đại đón nhận, trang trọng mở ra, tuyên chiếu)
Vua Bảo Đại: Hạnh phúc của dân Việt Nam
Độc lập của dân Việt Nam
Những chữ đó cao hơn ngai báu
Trẫm đã nghĩ suy thấu lý đạt tình
Mà đoàn kết lòng dân hiện giờ là hơn tất thảy
Để Việt Nam mãi mãi sống còn
Để trời xanh cao rộng khắp núi non
Trẫm xin nhượng quyền điều hành giang san xã tắc
Cho chính phủ Dân chủ - Cộng hòa
Chiếu này tuyên trước gần xa
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa muôn năm
Trẫm nguyện làm một người dân
Của nước độc lập muôn phần tự do.
(Hoàng thân Vĩnh Cẩn dâng khay đặt ấn Hoàng đế chi bảo và thượng phương bảo kiếm).
Vua Bảo Đại (đặt tay lên hai biểu tượng của triều đại):
Đây phút giờ thời khắc lịch sử
Xin trao lại Chính phủ những biểu tượng thiêng liêng
Thanh bảo kiếm tượng trưng uy quyền
Cùng Kim ấn "Hoàng đế chi bảo"
(Vua Bảo Đại trao lại cho Trần Huy Liệu. Trần Huy Liệu nhận ấn và kiếm).
Trần Huy Liệu: Xin cám ơn công dân Vĩnh Thụy
(Còn đây), huy hiệu cờ đỏ sao vàng,
xin trao tặng đến ông.
(Trần Huy Liệu đưa tay hướng về mời Cù Huy Cận và vua Bảo Đại. Cù Huy Cận gắn huy hiệu lên áo của vua Bảo Đại. Cù Huy Cận vừa gắn huy hiệu vừa nói…).
Cù Huy Cận: Chiếc huy hiệu thắm tươi màu cách mạng
Tự Việt Nam Độc lập đồng minh
Sao năm cánh: sĩ, nông, công, thương, binh [2]
Mãi tỏa lan xa hiện rõ tinh thần đoàn kết.
Trần Huy Liệu: Kính thưa quốc dân đồng bào
Nước ta trở từ đây chuyển sang trang mới
Xây nền độc lập tự do dân chủ
Nhà vua thoái vị, thay mặt triều đình đà tuyên bố
Cũng bởi mưu cầu hạnh phúc cho muôn dân
Chính phủ Việt Nam biểu hiện sự đồng tình
Lịch sử sang trang, Nhân dân là chủ
(Trần Huy Liệu vừa dứt lời, lá cờ đỏ sao vàng được kéo lên. Nền nhạc Tiến quân ca trỗi lên qua âm thanh bộ kèn hơi. Tiếng vỗ tay, hô vang của muôn dân):
- Việt Nam độc lập... Muôn năm (3 lần)
(Các vị trong ban tổ chức ở lại tiếp tục trao đổi, nghị sự với công dân Bảo Đại).
Hữu Tham Tri: Tôi xin chào ngài! Mời ngài
Trần Huy Liệu: Thưa ông Vĩnh Thuỵ...
Khi vào đây tôi được Chủ tịch Hồ Chí Minh chuyển ý
Mời ông tham gia Cố vấn tối cao
Cùng Chính phủ Lâm thời
Vạch kế sách chấn hưng đất nước
Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại):
Khi hay tin đứng đầu Việt Minh là Nguyễn Ái Quốc
Đã yên ủi lòng tôi, trước cuộc thế chuyển xoay
Nay lại được Người mời tham gia chính phủ
Dạ càng vui thay, lòng đâu ý chối từ...
Phạm Khắc Hòe (nhìn sang ông Tả Tham Tri):
Hay... hay...
Cụ Hồ quả là đấng cao minh
Tả Tham Tri: Vừa bao dung, vừa trông xa nhìn rộng
Trần Huy Liệu: Nếu quyết vậy, mời ông, nhanh càng tốt
Ra Thủ đô để hội kiến với Người.
Vĩnh Thụy: Tôi có mấy điều thu xếp
Chiều nay tôi sẽ trả lời ngài.
Trần Huy Liệu: Xin cám ơn ngài! Xin chào ngài!
(Các vị trong ban tổ chức cáo từ, mọi người lui ra)...
Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại):
Khách: (Muôn dân ơi, đây là lúc)
Ngôi báu đã rời
(Ta đây) Với non sông muốn góp phần bé nhỏ
(Cũng là lúc)
(Xã tắc vốn mịt mờ)
Nay càng sáng tỏ
Tài hèn góp sức nguyện về sau...
(Vĩnh Thụy quay gót, Nam Phương xuất hiện: cảnh chia tay quyến luyến)
Nam Phương: Hoàng thượng! Hoàng thượng!
Vĩnh Thụy: Hoàng hậu…!
Nam Phương: Người ra Hà Nội ư...
Hoàng thượng ơi!
Hoàng gia ta giờ đà tan rã
Bao lặng thầm lả chã hơi thu
Nhạc lễ phai cùng Đường Ngu
Y quan xếp lại Hán Chu mịt mù [3]
Vĩnh Thụy: Hoàng hậu…!
Nam Phương: Nhạc lễ uy nghi muôn đời thịnh trị
(mà) Triều Đại Nam không lẽ khép lại rồi sao...
Vĩnh Thụy: Hoàng hậu ơi!
Ra đi đâu cũng chốn sơn khê
(Nên) Nhắn nhủ cùng nàng trọn mọi bề
Con thảo, vợ hiền, luôn gắng sức
Cho toàn vẹn chữ: nghĩa phu thê
Nam bằng: Nghĩa phu thê! Ngày về sẽ gặp
Hoàng hậu ở lại, để ta đi
Chớ u buồn nước mắt chứa chan
Nam Phương: Xin người bảo trọng tinh thần, long thể
Lòng thiếp đây thăm thẳm nghĩa trăm năm
Với thân mẫu sẽ đêm ngày phụng sự
Với các hoàng nhi năm tháng tận tình
Trọn vẹn ba sinh... Người yên lòng cất bước.
(Chừ thì...)
Xuân nữ: Thiếp đây ngồi lại với canh tàn
Luống những bâng khuâng với mơ màng
Gót loan rời bước, người đi mãi
Mùa thu càng quạnh gió đông sang
Bước xuống thềm châu sầu vương lệ khép
Mái điện son chim phượng khóc than
Nam: Ngàn non khuất dáng chim hoàng
Chỉ vương trong gió bóng chàng nẻo xa
Vĩnh Thụy: Hoàng hậu ơi... xin đừng buồn nữa
Bão sẽ qua, sóng dậy cũng rồi qua
Nam - xuân: Rồi đây hai chữ nước nhà
Chung tay gắng sức chí ta nguyện cùng ...
Nam Phương:
Nhịp 3/7: Mai đây thiên lý dặm xa
Bóng người thăm thẳm sơn hà nhòe mi
Vĩnh Thụy: Cầm tay giây phút biệt ly
Mà câu ly biệt nghẹn bề núi sông
Nam Phương:
Nam: Bao nhiêu hờn giận, yêu thương
Vĩnh Thụy:
(Tiếp) nam: Thịnh suy, hưng phế cũng nhường vận thôi.
Tiếng vọng: Biệt là biệt phân ly
(Hậu trường) Phân ly đôi đường
Góp sức cùng lòng theo cách mạng
Dựng xây đất nước thoát lầm than
Biệt là biệt phân ly
Phân ly đôi đường
Hát cùng bài: Dù cho cách trở cả đôi đàng
Vẫn nguyện cùng nhau nghĩa vẹn toàn
Trong buổi chia ly luôn gắng sức
Ước mong đất nước cảnh huy hoàng
CẢNH VI: TỔNG KẾT TUẦN LỄ VÀNG
Tuần lễ vàng chứng minh sức mạnh lòng dân
Báu vật bằng vàng, Hồ Chủ tịch quyết tâm gìn giữ
Bối cảnh: Phủ Bắc Bộ, nơi làm việc những ngày đầu của Chính phủ Lâm thời. Buổi lễ tổng kết Tuần Lễ Vàng 1945.
Cố vấn Vĩnh Thụy thay mặt tổng kết. Hồ Chủ tịch tham dự, chỉ thị các thành viên chuẩn bị buổi gặp mặt cám ơn các thương nhân, các nhà tư sản đã có tấm lòng với quốc gia, dân tộc. Buổi lễ có các thành viên chính phủ, các ủy viên hội đồng trong Ban vận động Tuần lễ vàng v.v.
Các ủy viên hội đồng trong Ban vận động Tuần lễ vàng ở Hà Nội thỉnh thị Hồ Chủ tịch về kế hoạch nung chảy những báu vật vàng, bạc thu từ triều Nguyễn.
Cố vấn Vĩnh Thụy:
Kính thưa Hồ Chủ tịch, thưa tất cả mọi người
Tôi Vĩnh Thụy - Cố vấn tối cao
Xin tổng kết mấy lời:
Tuần Lễ Vàng sau thời gian phát động.
Hồ Chủ tịch: Xin mời ông Cố vấn
Nêu thật rõ tình hình.
Vĩnh Thụy:
Tán: Sau phát động phong trào / Lúc đầu dân chưa tỏ
Nhưng mấy ngày sau đó / Mọi người đã đều hay
Tuần lễ vàng như sức gió chuyển lay
Lòng muôn người tựa vừng đông ngời sáng
Hồ Chủ tịch: Các đồng chí!
Trong gieo neo khốn khó
Giữa thử thách chất chồng
Lòng người như núi như sông
Hiệu triệu hô vang bừng bừng sáng tỏ
Vĩnh Thụy: Tuần lễ vàng phát động/ Tính chỉ hơn một tuần
Mà nhân dân cả nước/ Góp sáu mươi triệu đồng
Đây sức mạnh đồng tâm/ Kia số vàng đóng góp
Ba trăm bảy ky lô [4]/ Góp dựng lại cơ đồ.
Từ Phú Xuân Huế trở vô
Quảng Nam, Quảng Ngãi, Tây Đô chung lòng
Bắc bộ góp của, dốc công
Bao nhiêu nghĩa cử (cùng) non sông vững bền
Hồ Chủ tịch: Cám ơn ông Cố vấn!
Quả đúng là:
Dễ trăm lần không dân cũng chịu
Khó vạn lần dân liệu cũng xong [5]
Nam bằng: Bấy nhiêu gian khó non sông
Hường: Như trước đây chính phủ ta kêu gọi
Tuần lễ vàng xây quỹ độc lập
Tuần lễ vàng dựng quỹ quốc phòng
Đến hôm nay
(Tiếp) nam: Trăm công nghìn việc ngược dòng cũng xuôi
Này các đồng chí!
Phát động kết quả đã xong
Phân chia cho rõ để cùng… tiến lên
Cù Huy Cận: Thưa chủ tịch
Về điều này mọi người trong ban vận động
Cũng đã có dự kiến rõ ràng
Chấn hưng cùng với quốc phòng
Cả hai nhiệm vụ song song vẹn toàn.
Hồ Chủ tịch: Đúng, đúng lắm
(À… mà còn) Việc này ắt phải làm ngay
Các nhà thương nhân, tư sản và toàn thể đồng bào
(Ta phải) định ngày... (để) cám ơn
Này các đồng chí! Luôn nhớ rằng
Đoàn kết là sức mạnh sống còn
Lòng dân kết lại núi non vững bền
Trần Huy Liệu: Vâng, thưa Chủ tịch
Hồ Chủ tịch: Các đồng chí!
Chúng ta phải tuyên dương những tấm lòng góp công Điển hình như Trịnh Văn Bô
Những con người như Hoàng Minh Hồ [6]
Rồi Sơn Hà, Hữu Nhâm cùng nhiều người khác
Theo thời gian lịch sử mãi không quên
Trần Huy Liệu: Vâng. Vâng
Trong thời gian sớm nhất
Cuộc gặp mặt cám ơn các nhà tư sản
cùng đồng bào sẽ được diễn ra.
Hồ Chủ tịch: (Chúng ta cần nhớ)
Sau cách mạng quốc khố hơn một triệu
Dân đóng góp nay được gấp trăm lần
Vĩnh Thụy: Thưa Chủ tịch
Điều này chứng tỏ
Cách mạng Việt Nam lại gặt hái tiếp thành công
Hồ Chủ tịch: Đoàn kết dân tộc, phụng sự tổ quốc
Tám chữ thành sức mạnh kết tinh
Điều gặt hái lớn nhất sau Tuần Lễ Vàng phát động
Đó là: hiểu rõ thêm sức mạnh của lòng dân
Đây cội nguồn dân tộc: đúc nên nền đất nước
Kia truyền thống quốc gia: kết thành đài nhân dân.
Mọi người : Đoàn kết, đoàn kết đại đoàn kết
Thành công, thành công đại thành công
Hồ Chủ tịch: Đúng, đúng vậy!
Vậy các đồng chí đã hiểu chưa?
Còn ý kiến nào khác?
Trần Hữu Dực: Thưa Chủ tịch
Ngoài phần đóng góp của nhân dân trong Tuần Lễ Vàng
Chúng ta đã nhận được từ triều Nguyễn
Rất nhiều vật quý bằng bạc, bằng vàng
(Các báu vật được đưa ra cho Hồ Chủ tịch xem)
Hồ Chủ tịch (nhìn Cố vấn Vĩnh Thụy):
Hay, hay lắm!
Trần Hữu Dực: Thưa Chủ tịch!
Nếu của cải này nếu đem nung chảy cả ngàn
Sẽ có lượng lớn bổ sung ngân hàng, quốc khố [7]
Mời Chủ tịch xem qua
Hồ Chủ tịch (đến xem các báu vật nét mặt từ đăm chiêu chuyển sang thảng thốt): Cái gì? Các ông đang bàn thảo
Nung chảy ấn, sách vàng này góp phần tăng quốc khố đó ư?
Mọi người: Thưa... phải vậy!
Hồ Chủ tịch: Các đồng chí không tính kỹ
Chẳng suy nghĩ trước sau
Đã bàn thảo cùng nhau
Định nung chảy những báu vật này ư?
Điều này e... hạ sách
Là hạ sách!
Trần Hữu Dực: Thưa Chủ tịch
Ta đã có gần ba nghìn món báu vật bằng vàng
Bây giờ nếu mang sang/ Nung chảy thành kim hoàn
Bổ sung thêm quốc khố/ Củng cố lại quốc phòng
Bài đế và phản phong/ Cả hai đường đều thuận
Hồ Chủ tịch: Không... không... không
Tôi nói là hạ sách còn vì... lẽ khác
Này các đồng chí!
Trước đây vua Tự Đức đã cho triệu hồi và nung chảy [8]
Rất nhiều cuốn sách vàng của hoàng tộc hoàng thân
Hẳn các đồng chí còn nhớ
Khi gặp vận quốc gia trắc trở
Phải đền bù chiến phí cho thực dân
Nếu hôm nay gặp khó khăn ta cũng làm như vậy
Thì e là văn hóa nước nhà...
Văn hóa nước nhà mai một... sẽ còn chi?
Khách: Sách bạc, ấn vàng chạm khắc hoa văn ngời tinh xảo
Thật quý thay, bàn tay người thợ thủ công
Hoa văn, họa tiết sáng bừng... là đây...
(Tiếp) khách: Giữ lại tinh thần di sản, cho bao thế hệ muôn đời sau
Mọi người : Vâng…Chúng tôi đã hiểu ý sâu xa của Người
Hồ Chủ tịch: Tình hình lúc này... thật... mọi người nên tỉnh táo
Đừng tưởng nung chảy sách ấn, là bài đế, phản phong
Trên kim sách hiện rõ óc sáng tạo của thợ thủ công
Những hoa văn còn ngời lên tài hoa của người lao động
Không... Không
Không thể nung những báu vật bằng vàng bằng bạc Chẳng thể xem thường sức sáng tạo của nhân dân
Bàn tay người thợ thủ công
Hoa văn, họa tiết sáng bừng... là đây...
Trần Huy Liệu: Giữ lại tài sản tinh thần cho bao thế hệ
Để muôn sau con cháu tỏ tường.
Hồ Chủ tịch: Người thợ thủ công tạc tháng ngày
Hoa văn họa tiết mãi còn đây
Ấn vàng, sách bạc ngời tinh xảo
Quyết giữ cho muôn thuở sau này.
(Nhạc vào và hạ màn).
N.P.H.T
(TCSH355/09-2018)
[1] Năm 1945, trước ngày thoái vị, thay mặt triều Nguyễn, vua Bảo Đại đã trao cho Chính phủ Lâm thời hơn 2.700 món hiện vật là kim ấn, kim sách và các loại đồ ngự dụng bằng chất liệu quý như vàng, bạc, ngọc, ngà v.v.
[2] Quốc kỳ Việt Nam có xuất xứ từ hiệu kỳ của Việt Nam Độc lập Đồng minh hội, với nền đỏ tượng trưng màu cách mạng; màu sao vàng tượng trưng cho dân tộc; với năm cánh sao tượng trưng cho sức mạnh đoàn kết của 5 tầng lớp: sĩ, nông, công, thương, binh.
[3] Nhạc lễ và Y quan là các khái niệm chỉ về văn hiến đất nước thời quân chủ. Nhạc lễ và Y quan thịnh trị, quy củ điều ấy biểu thị một đất nước vững mạnh. Trên điện Thái Hoà có bài thơ với đại ý là: Dấy nghiệp văn thôi võ/ Lúc biển lặng sóng yên/ Y quan Chu chế độ/ Lễ nhạc Han uy nghiêm.
[4] Sau Cách mạng tháng Tám, quốc khố chỉ có 1,2 triệu đồng. Tuần lễ Vàng phát động trong cả nước từ 17/9 đến 24/9/1945 đã huy động được tổng cộng 60 triệu đồng và 370kg vàng.
[5] Đây là các câu rút từ bài thơ tuyên truyền “Dân no thì lính cũng no” của nhà thơ Thanh Tịnh (1911-1988): Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn lần dân liệu cũng xong/ Thóc thuế mà có dân đong/ Trăm công nghìn việc ngược dòng cũng xuôi. Bác Hồ thường nhắc các câu thơ này trong các bài nói của mình.
[6] Vợ chồng nhà tư sản Trịnh Văn Bô - Hoàng Minh Hồ đã ủng hộ cho Chính phủ hơn 5 ngàn lượng vàng.
[7] Theo sử liệu, trong Tuần Lễ Vàng 1945, một số người của Ban điều hành đã có “sáng kiến” đưa các báu vật bằng vàng thu từ triều Nguyễn để nấu chảy thành ngân lượng bổ sung vào ngân khố nhưng Hồ Chủ tịch dứt khoát không đồng ý.
[8] Năm 1862, sau khi ký Hòa ước Nhâm Tuất, triều Tự Đức (1848 - 1883) đã cho triệu hồi các loại sách vàng, sách bạc vốn sắc phong cho các hoàng thân, hoàng tử, công chúa để nung chảy thành ngân lượng nhằm đền bù chiến phí cho Thực dân Pháp. Sau đó, cấp lại cho các đối tượng trên bằng loại sách đồng.
Tải mã QRCode
Tháng Bảy âm. Tháng cô hồn. Mồng một âm đã rả rích mưa báo hiệu cho một tháng âm u của Tiết Ngâu. Sắp rằm, tâm trí chợt như hửng ấm khi tiếp được cái giấy Hà Nội mời dự lễ khánh thành nhà bia và Khu tưởng niệm đồng bào ta bị chết đói năm 1945. Chợt nhớ, công việc này đã manh nha từ hơn mười năm trước…
LTS: Nguyễn Hưu, bút danh Thanh Minh, sinh năm 1914, quê huyện Can Lộc, hoạt động báo chí và văn học từ những năm 1934 - 1935. Ông là nhà báo, nhà thơ, dịch giả Hán - Nôm, nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, nhà quản lý văn hóa văn nghệ có nhiều thành tựu và cống hiến. Ông là Hội trưởng Hội văn nghệ Hà Tĩnh đầu tiên. Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông [21.8], VHNA sẽ lần lượt đăng một số bài viết về ông.
Vùng quê nghèo chúng tôi nằm sát chân núi Hồng Lĩnh có Hàm Anh (nay là xóm 1 xã Tân Lộc) từng sản sinh ra một Tiến sĩ xuất thân Đệ nhị giáp (Hoàng giáp) (1499) đời Lê Hiến tông tên là Phan Đình Tá (1468-?)
HỒ DZẾNH
Hồi ký
Mai sau dù có bao giờ
Đốt lò hương ấy, so tơ phím này
NGUYỄN DU
LÝ HOÀI THU
Tôi nhớ… một chiều cuối hạ năm 1972, trên con đường làng lát gạch tại nơi sơ tán Ứng Hòa - Hà Tây cũ, lần đầu tiên tôi nhìn thấy thầy. Lúc đó lớp Văn K16 của chúng tôi đang bước vào những tuần cuối của học kỳ II năm thứ nhất.
PHẠM THỊ CÚC
(Tặng bạn bè Cầu Ngói Thanh Toàn nhân Ngày Thương binh Liệt sĩ)
Người ta vẫn nói Tô Hoài là “nhà văn của thiếu nhi”. Hình như chưa ai gọi ông là “nhà văn của tuổi già”. Cho dù giai đoạn cuối trong sự nghiệp của ông – cũng là giai đoạn khiến Tô Hoài trở thành “sự kiện” của đời sống văn học đương đại chứ không chỉ là sự nối dài những gì đã định hình tên tuổi ông từ quá khứ - sáng tác của ông thường xoay quanh một hình tượng người kể chuyện từng trải qua nhiều thời kỳ lịch sử, nhiều thăng trầm của đời sống, giờ đây ngồi nhớ lại, ngẫm lại, viết lại quá khứ, không phải nhằm dạy dỗ, khuyên nhủ gì ai, mà chỉ vì muốn lưu giữ và thú nhận.
CAO THỊ QUẾ HƯƠNG
Tôi được gặp và quen nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vào những ngày đầu mùa hè năm 1966 khi anh cùng anh Trần Viết Ngạc đến trụ sở Tổng hội Sinh viên, số 4 Duy Tân, Sài Gòn trình diễn các bài hát trong tập “Ca khúc da vàng”.
THÁI KIM LAN
Lớp đệ nhất C2 của chúng tôi ở trường Quốc Học thập niên 60, niên khóa 59/60 gồm những nữ sinh (không kể đám nam sinh học trường Quốc Học và những trường khác đến) từ trường Đồng Khánh lên, những đứa đã qua phần tú tài 1.
Nhung nhăng, tần suất ấy dường như khá dày, là ngôn từ của nhà văn Tô Hoài để vận vào những trường hợp, lắm khi chả phải đi đứng thế này thế nọ mà đương bập vào việc chi đó?
Tôi được quen biết GS. Nguyễn Khắc Phi khá muộn. Đó là vào khoảng đầu những năm 80 của thế kỉ trước, khi anh được chuyển công tác từ trường ĐHSP Vinh ra khoa Văn ĐHSPHN.
Năm 1960, tôi học lớp cuối cấp 3. Một hôm, ở khu tập thể trường cấp 2 tranh nứa của tôi ở tỉnh, vợ một thầy giáo dạy Văn, cùng nhà, mang về cho chồng một cuốn sách mới. Chị là người bán sách.
DƯƠNG PHƯỚC THU
LTS: Trên số báo 5965 ra ngày 07/02/2014, báo Thừa Thiên Huế có bài “Vài điều trong các bài viết về Cố Đại tướng Nguyễn Chí Thanh”, của tác giả Phạm Xuân Phụng, trong đó có nhắc nhiều đến các bài viết về Đại tướng đã đăng trên Sông Hương số đặc biệt tháng 12/2013 (số ĐB thứ 11), và cho rằng có nhiều sai sót trong các bài viết đó.
NGUYỄN THỊ PHƯỚC LIÊN
(Thương nhớ Cẩm Nhung của Hương, Lại, Nguyệt, Liên)
BÙI KIM CHI
Trời cuối thu. Rất đẹp. Lá phượng vàng bay đầy đường. Tôi đang trong tâm trạng náo nức của một thoáng hương xưa với con đường Bộ Học (nay là Hàn Thuyên) của một thời mà thời gian này thuở ấy tôi đã cắp sách đến trường. Thời con gái của tôi thênh thang trở về với “cặp sách, nón lá, tóc xõa ngang vai, đạp xe đạp…”. Mắt rưng rưng… để rồi…
LÊ MINH
Nguyên Tư lệnh chiến dịch Bí thư Thành ủy Huế (*)
… Chỉ còn hai ngày nữa là chiến dịch mở; tôi xin bàn giao lại cho Quân khu chức vụ "chính ủy Ban chuẩn bị chiến trường" để quay về lo việc của Thành ủy mà lúc đó tôi vẫn là Bí thư.
NGUYỄN KHOA BỘI LAN
Cách đây mấy chục năm ở thôn Gia Lạc (hiện nay là thôn Tây Thượng) xã Phú Thượng có hai nhà thơ khá quen thuộc của bà con yêu thơ xứ Huế. Đó là bác Thúc Giạ (Ưng Bình) chủ soái của Hương Bình thi xã và cha tôi, Thảo Am (Nguyễn Khoa Vi) phó soái.
(SHO). Nhân dân Việt Nam khắc sâu và nhớ mãi cuộc chiến đấu can trường bảo vệ biên giới tổ quốc thân yêu tháng 2/1979. Điều đó đã thêm vào trang sử hào hùng về tinh thần bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của dân tộc.
NGUYỄN CƯƠNG
Có nhiều yếu tố để Cố đô Huế là một trung tâm văn hóa du lịch, trong đó có những con đường rợp bóng cây xanh làm cho Huế thơ mộng hơn, như đường Lê Lợi chạy dọc bên bờ sông Hương, đường 23/8 đi qua trước Đại Nội, rồi những con đường với những hàng cây phượng vỹ, xà cừ, bằng lăng, me xanh... điểm tô cho Huế.
HOÀNG HƯƠNG TRANG
Cách nay hơn một thế kỷ, người Huế, kể cả lớp lao động, nông dân, buôn bán cho đến các cậu mợ, các thầy các cô, các ông già bà lão, kể cả giới quý tộc, đều ghiền một lại thuốc lá gọi là thuốc Cẩm Lệ.