NGUYỄN VIỆT
Tuyển tập Rừng hát do Nxb. Văn học ấn hành, vừa ra mắt bạn đọc tháng 1/2015, là một công trình xuất bản văn học nghệ thuật công phu, chất lượng và rất đáng trân trọng về những tác phẩm và công trình nghiên cứu của nhạc sĩ, nhà văn, nhà biên kịch, nhà nghiên cứu văn hóa, văn nghệ dân gian Minh Phương.
Ảnh: internet
Cố nhạc sĩ Minh Phương (1931 - 2011), tên thật là Trương Minh Phương, quê ở Phù Mỹ, Bình Định. Ông tham gia cách mạng từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp khi còn là thiếu sinh quân, làm liên lạc trong Ủy ban lâm thời Mặt trận Việt Minh tỉnh Lâm Đồng, rồi chuyển về công tác ở Chi đội 2 Giải phóng quân Nha Trang, sau đó về công tác tại Ty Thông tin tỉnh Bình Định. Vốn có năng khiếu, lòng đam mê âm nhạc và tính tích cực trong hòa nhập, vận động quần chúng, ông được điều về công tác tại Đoàn Tuyên truyền Lưu động Trung Bộ. Từ năm 1949 đến năm 1975, ông công tác và đảm đương nhiều cương vị ở nhiều đơn vị văn hóa như Đoàn Tuyên truyền xung phong tỉnh Quảng Bình, Đoàn Văn công phát động quần chúng Liên khu 4, Ty Thông tin Quảng Bình. Năm 1976 ông về công tác tại Nhà Văn hóa Trung tâm tỉnh Bình Trị Thiên, làm Phó Giám đốc và làm chuyên gia văn hóa tại tỉnh Savanakhet nước bạn Lào. Sau chia tỉnh (1989), ông công tác tại Trung tâm VHTT tỉnh Thừa Thiên Huế cho đến ngày nghỉ hưu (1993). Từ khi nghỉ hưu cho đến ngày mất (2011), dù tuổi cao, sức yếu, ông vẫn đi nhiều và viết nhiều ở trên nhiều lĩnh vực, cả sáng tác âm nhạc, văn học, sân khấu và nghiên cứu văn hóa văn nghệ dân gian.
Điểm qua tiểu sử của nhạc sĩ Minh Phương, có thể thấy ông là một trong những văn nghệ sĩ lão thành, đã gắn bó và cống hiến cả cuộc đời cùng sự nghiệp cho dải đất miền Trung - Tây Nguyên nói chung và Bình Trị Thiên nói riêng.
Tuyển tập tác phẩm Rừng hát dày 1.328 trang, đã tập hợp cơ bản những sáng tác, nghiên cứu Văn học nghệ thuật trong cả cuộc đời của nhạc sĩ Minh Phương.
Tuyển tập được chia làm 4 phần:
Phần 1 có tên Giai điệu, dài 288 trang, giới thiệu 128 ca khúc mà nhạc sĩ Minh Phương đã viết trong 60 năm, từ năm 1951 đến cuối đời, năm 2011. Với số lượng ca khúc này, trong đó có nhiều ca khúc được ông sáng tác vào đầu những năm 50 của thế kỉ 20, ông xứng đáng đứng vào hàng ngũ các bậc trưởng lão trong làng sáng tác tân nhạc của Việt Nam. Các sáng tác ca khúc của nhạc sĩ Minh Phương hầu hết được ông viết từ thực tiễn cuộc sống lao động, sản xuất và chiến đấu của quân và dân ta. Một trong những thế mạnh trong sáng tác ca khúc của ông là khai thác chất liệu dân ca, dân nhạc, dân vũ của các vùng miền, đặc biệt là khu vực miền Trung - Tây Nguyên, vì vậy, các ca khúc của ông không chỉ rất mộc mạc, gần gũi, mang đầy hơi thở của cuộc sống và dễ đi vào lòng người, mà còn mang đậm âm hưởng dân ca và bản sắc dân tộc. Bên cạnh những ca khúc ngợi ca lao động sản xuất, học tập, chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng hòa bình, nhạc sĩ Minh Phương viết rất nhiều bản tình ca, ca ngợi tình yêu đôi lứa, ca ngợi cảnh đẹp thiên nhiên của quê hương đất nước. Nhiều bản tình ca của nhạc sĩ Minh Phương viết cách đây hơn 40 năm mà đến nay hát lên vẫn thấy rất mới, rất gần với giới trẻ hiện nay.
Một điều đáng kể nữa trong phần sáng tác âm nhạc của nhạc sĩ Minh Phương, đó là 2 bài hát Lý thả diều và Lý Vọng cảnh do ông sáng tác và gọi là Dân ca thể nghiệm. Có thể nói: Đây là một đề xuất rất táo bạo của nhạc sĩ Minh Phương. Ông đã sử dụng hai câu ca dao để viết nên hai bài hát mới trên cơ sở sử dụng chất liệu âm nhạc dân tộc với hy vọng nếu nó được yêu thích và truyền bá rộng rãi, lâu dần nó sẽ trở thành dân ca. Bây giờ còn quá sớm để có thể đánh giá những thể nghiệm này của ông, nhưng trong thực tiễn của đời sống VHNT hiện nay, trước sự phát triển ồ ạt khó kiểm soát của âm nhạc mới và trào lưu âm nhạc ngoại nhập, nhiều bài bản dân ca của nhiều vùng miền trên đất nước ta đã bị quên lãng đến thất truyền, nhiều bài bản dân ca khác đang bị mai một dần… thì bên cạnh công tác sưu tầm, chỉnh lý, bảo tồn, gìn giữ các vốn quý trong dân ca, dân nhạc, dân vũ, việc tiếp tục viết thêm những bài bản mới trên cơ sở chất liệu âm nhạc dân tộc như những ca khúc Dân ca thể nghiệm của nhạc sĩ Minh Phương cũng là một cách để bảo tồn và nối tiếp sự trường tồn của bản sắc dân tộc.
Phần 2 mang tên Bên cánh màn nhung, dài 856 trang, giới thiệu 80 kịch bản sân khấu, gồm kịch nói, ca kịch, ca cảnh, kịch bản thông tin và tiểu phẩm, trong đó có cả các kịch bản, ca cảnh, tiểu phẩm viết cho thiếu nhi. Các kịch bản sân khấu thuộc nhiều thể loại của nhạc sĩ Minh Phương đề cập đến nhiều đề tài và được thể hiện ở nhiều loại hình chính kịch, kịch tâm lý xã hội, kịch bản thông tin tuyên truyền, kịch vui, kịch châm biếm, đả kích… trong đó có nhiều vở kịch mang tầm tư tưởng lớn về truyền thống cách mạng cả trong chiến đấu cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nhiều vở có tính triết lý cuộc đời sâu sắc; nhiều vở là chuyện đời nhân nghĩa vô cùng cảm động; nhiều vở là bài học về nhân cách; nhiều vở có tính phê phán, đả kích thói hư tật xấu, cửa quyền, tham nhũng v.v. Bên cạnh các vở kịch dài, kịch ngắn, kịch vui, kịch châm biếm đả kích, nhạc sĩ Minh Phương còn viết nhiều kịch bản thông tin tuyên truyền, nhiều vở ca kịch, ca cảnh sử dụng cả nhạc mới lẫn các làn điệu dân ca, các điệu hò, vè. Đặc biệt, vở kịch Mưa rừng của ông đã đạt giải thưởng lớn của Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam, và được Nhà xuất bản Giáo dục tuyển chọn in vào sách Phụ lục văn học trích giảng lớp 9 phổ thông từ năm 1978.
Đọc các kịch bản sân khấu của nhạc sĩ Minh Phương mới thấm thía tình yêu sâu sắc của ông đối với con người, đối với cuộc sống, đối với quê hương, đất nước, và sự trân quý của ông đối với các giá trị truyền thống của dân tộc, đặc biệt là về đạo đức, lòng nhân ái, độ lượng, vị tha và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Lá lành đùm lá rách” của dân tộc ta. Văn là người, vì vậy có thể thấy phần “Bên cánh màn nhung” của Tuyển tập “Rừng hát” đã thể hiện đậm nét cốt cách trung thực, thẳng thắn, tâm hồn đa cảm và tấm lòng nhân hậu, đầy tình thương yêu đối với con người và thiên nhiên của nhạc sĩ Minh Phương. Đồng thời, với số lượng tác phẩm sân khấu đồ sộ ấy, nhạc sĩ Minh Phương xứng đáng là một nhà biên kịch và đạo diễn sân khấu tài năng, và thực tế, ông đã có một vị thế đáng trân trọng trong Hội Nghệ sĩ sân khấu Trung ương, địa phương và trong lòng khán thính giả yêu Sân khấu kịch nói và ca kịch.
Phần 3 mang tên Muôn sắc, dài 149 trang, giới thiệu 8 tác phẩm, gồm những công trình nghiên cứu, sưu tầm, chỉnh lý về dân ca, dân nhạc, dân vũ các vùng miền thuộc khu vực miền Trung - Tây Nguyên, nhất là của các dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Trị Thiên trước đây và Thừa Thiên Huế sau này. Đặc biệt công trình nghiên cứu mang tên Dư âm tình rừng của ông đã giới thiệu chi tiết 16 loại nhạc cụ dân tộc của đồng bào các dân tộc Tà Ôi, Pakoh, Cơ Tu ở A Lưới và Nam Đông (Thừa Thiên Huế), là một công trình nghiên cứu rất công phu với đủ tư liệu, hình ảnh, bài bản minh họa và các phụ bản về nguồn gốc, xuất xứ, truyền thuyết, truyện cổ tích của các dân tộc. Bên cạnh công trình nghiên cứu về các nhạc cụ dân tộc, thì công trình nghiên cứu về các bài bản, làn điệu dân ca và hò, vè của Quảng Bình (viết chung với nhạc sĩ Quách Mộng Lân) cũng là một công trình nghiên cứu dân ca rất công phu, mặc dù tác giả đặt tên công trình rất khiêm tốn là Vài nét về dân ca Quảng Bình.
Ngoài ra, ở phần Muôn sắc này còn đăng một số bài viết và truyện ngắn xuất phát từ những kỉ niệm thực tiễn đầy sinh động của nhạc sĩ Minh Phương ở những vùng chiến sự trên đường Trường Sơn - Đường mòn Hồ Chí Minh thời kháng chiến chống Mỹ. Có những truyện ngắn hết sức cảm động về cuộc sống lạc quan, tinh thần chiến đấu kiên cường và sự hy sinh anh dũng của những chiến sĩ lái xe và nữ Thanh niên Xung phong trên tuyến đường huyền thoại này. Ở cuối phần Muôn sắc còn đăng một loạt bài viết ngắn là những mẩu chuyện kể về những kỉ niệm đi làm công tác vận động, tuyên truyền của chính tác giả cùng các đồng nghiệp trong Đội Tuyên truyền xung phong thuộc Ty Văn hóa Quảng Bình thời kháng chiến chống Pháp. Với lối viết giản dị, chân thực và dí dỏm, những mẩu chuyện ngắn này cũng phác họa nên một bức tranh thật đẹp và thú vị về những người làm công tác vận động, tuyên truyền dưới thời kháng chiến chống Pháp, không chỉ rất vất vả, gian lao mà còn cả không ít đổ máu, hy sinh, nhưng họ luôn sống rất lạc quan và yêu đời.
Qua các công trình nghiên cứu, sưu tầm về dân ca và các nhạc cụ dân tộc của nhạc sĩ Minh Phương, có thể thấy sự nghiêm túc và công phu của ông trong công tác nghiên cứu, sưu tầm về văn hóa nghệ thuật các dân tộc thiểu số, đặc biệt là phần sưu tầm và nghiên cứu các bài bản dân ca cùng các loại nhạc cụ dân tộc của các dân tộc thiểu số ở Bình Trị Thiên. Đây cũng là một phần đóng góp đáng kể của ông vào kho tàng văn hóa nghệ thuật các dân tộc thiểu số ở khu vực miền Trung - Tây Nguyên nói chung và Bình Trị Thiên nói riêng.
Phần 4 của Tuyển tập Rừng hát mang tên Những điều cảm nhận, dài 35 trang, tập hợp 12 bài viết của các tác giả là những nhà văn, nhà báo, nhạc sĩ, nhà nghiên cứu về các tác phẩm, công trình âm nhạc, văn học, sân khấu, nghiên cứu, sưu tầm của nhạc sĩ Minh Phương. Đây là những bài viết không chỉ đơn thuần chuyên môn nghiêm túc với những ghi nhận, đánh giá cao về chất lượng các tác phẩm, công trình của nhạc sĩ Minh Phương, mà còn thể hiện tình cảm trân trọng, thương quý đối với nhân cách, đạo đức nghề nghiệp và tài năng của người nghệ sĩ đáng kính: Nhạc sĩ, nhà biên kịch, nhà nghiên cứu văn hóa văn nghệ dân gian Trương Minh Phương.
Tuy tập hợp chưa thật đầy đủ, Tuyển tập Rừng hát vẫn là một công trình xuất bản phẩm Văn hóa nghệ thuật khá đồ sộ và công phu, được tuyển chọn in ấn từ nỗ lực của gia đình nhạc sĩ Minh Phương và Nhà xuất bản Văn học để giới thiệu đến bạn đọc nói chung và giới văn nghệ sĩ nói riêng những sáng tác và nghiên cứu tiêu biểu nhất trên các lĩnh vực sáng tác âm nhạc, văn học, sân khấu và nghiên cứu văn hóa văn nghệ dân gian của nhạc sĩ Minh Phương. Hơn 30 giải thưởng của Trung ương, địa phương, Hội Nhạc sĩ Việt Nam, Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam, cùng nhiều Huân chương, Huy chương, Kỉ niệm chương của Nhà nước và các Bộ, ban, ngành là những ghi nhận xứng đáng về những đóng góp, cống hiến của nhạc sĩ Minh Phương vào sự nghiệp phát triển văn học nghệ thuật, văn nghệ quần chúng ở cả nước nói chung và khu vực miền Trung - Tây Nguyên, Bình Trị Thiên nói riêng. Nhưng giải thưởng lớn nhất đối với ông là sự trân trọng và yêu quý của bạn bè, đồng nghiệp và đông đảo quần chúng yêu âm nhạc, sân khấu và văn hóa văn nghệ dân gian.
N.V
(SH314/04-15)

Tải mã QRCode
NGUYỄN VIỆT ĐỨC1.Về bản sắc văn hoá dân tộc.Mỗi dân tộc đều có một tiếng nói riêng, một cốt cách riêng được phản ánh thông qua những giá trị tinh thần và vật chất cụ thể, đó là bản sắc văn hoá truyền thống của dân tộc đó.
VĨNH PHÚCNghiên cứu, phê bình, giới thiệu Dân ca Nam Bộ trong giai đoạn này chúng tôi chỉ sưu tập được 15 bài, tuyển chọn và sử dụng 9 bài. Hầu như đều nổi trội lên 2 thể loại chủ yếu là Hò và Lý, kể cả những bài viết mang tính tổng quan về vùng dân ca này.
MẶC HY Hồi ký "Lúa vàng! Lúa vàng trên cánh đồng làng, tang tình tang, tang tình tang... Đêm nay, gặt mà lúa về... ta đập mà ta xay, ta giã mà ta giần..."
MAI VYSự sáng tạo nghệ thuật của giới nghệ sĩ biểu diễn xuất phát từ cảm xúc trước tác phẩm, trước cuộc sống. Đó là đặc thù trong quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực. Mối quan hệ đó bao giờ cũng là mối quan hệ có tính chất cảm tính. Người nghệ sĩ chân chính nào cũng có khả năng cảm xúc rất nhạy bén trước đối tượng được thể hiện. Họ có khả năng lồng trí tưởng tượng vào trong quá trình sáng tạo cốt để thâm nhập sâu hơn vào bản chất của các sự vật.
NGUYỄN THỤY KHACó thể nói, khi có loài người là có âm nhạc. Thực ra những âm thanh trong thiên nhiên, vũ trụ có trước loài người. Nhưng loài người không chỉ nghe được nó như loài thú chỉ đạt tới cảm xúc, mà còn nhận thức nó, bắt chước nó để tạo ra những âm thanh của mình. Một cành cây hay một khúc xương, người làm ra cây sáo. Sợi dây cung trở thành dây đàn. Một tấm da thú căng ra là thành cái trống.
MAI VYÂm nhạc là một bộ môn nghệ thuật có nhiều loại hình phong phú và đa dạng, từ làn điệu dân ca mộc mạc, từ nét nhạc tấu đơn giản của cây đàn nghiệp dư, đến những bản a-ri-a hết sức phức tạp trong ô-pê-ra hay các hình thức âm nhạc giao hưởng khác nhau như liên khúc giao hưởng, Trường ca giao hưởng.
NGUYỄN THỤY KHAVới độ dày gần nửa mét, gồm 7 quyển sách chia làm 5 tập (có tập 2 và tập 5 gồm 2 quyển) và bìa sách trình bày đẹp, trang trọng, bộ sách “Hợp tuyển tài liệu Nghiên cứu - Lý luận - Phê bình âm nhạc Việt Nam thế kỷ XX” là bộ sách âm nhạc đồ sộ và công phu nhất của ngành âm nhạc từ trước đến nay do Viện Âm nhạc Việt chủ biên và ấn hành vừa giới thiệu trước công luận gần đây.
NGUYỄN TRƯƠNG ĐÀNĐã gần một năm, Anh từ biệt trần gian về cõi vĩnh hằng, tâm tưởng tôi vẫn vấn vương với Anh, vẫn luôn mường tượng thấy Anh với nụ cười tươi tắn, rất hồn nhiên, lại nhiều lúc thấy Anh đang mơ màng chìm trong một thế giới riêng tư xa thẳm nào đó.
NHẤT LÂMVâng.Ca khúc thời ấy thật hào hùng, sôi sục và đầy lãng mạn.Đó là đêm trước của tháng Tám năm 1945, những năm tháng của phong trào Việt Minh chuẩn bị cho ngày toàn dân vùng lên đánh đổ mọi thế lực thù địch để giải phóng dân tộc, đất nước, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do. Và cái mốc đó, theo tôi là từ ngày cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn) năm 1941.
VIỆT ĐỨCVề với Trường Sơn, về với kỷ niệm của một thời khói lửa đạn bom là tiếng lòng, là tâm nguyện của nhiều hội viên Hội nhạc sỹ Việt Nam tỉnh Thừa Thiên Huế kể từ sau ngày giải phóng hoàn toàn Miền Nam 30/4/1975. Và sau gần 30 năm, mùa xuân 2004, tâm nguyện ấy đã trở thành hiện thực khi kỷ niệm của một thời chiến tranh cứ ào ạt ùa về theo bước chân các nhạc sỹ trở lại tuyến biên giới miền Tây A Lưới.
PHAN THUẬN THẢOGagaku - Nhã nhạc - là loại hình âm nhạc cung đình của Nhật Bản, đối lập với Zokugaku, tức âm nhạc dân gian. Thuật ngữ Gagaku được tiếp thu từ Trung Hoa cùng với sự tiếp nhận một bộ phận các nhạc khí và bài bản từ hệ thống âm nhạc cung đình phong phú và đặc sắc của đất nước Trung Hoa rộng lớn và giàu truyền thống văn hoá.
LÊ PHÙNGThế là không còn phút giây mong ngóng, đợi trông - “Ngày em đến đôi mắt long lanh, thơ ngây mơ màng, ngày em đến đôi má hây hây hương thơm nồng nàn...” Bởi chàng nhạc sĩ lãng tử ấy đã ra đi, về với cõi vĩnh hằng. Còn đâu nữa bóng hình của gã si tình say mê, đợi chờ ngày em đến.
Nhà thơ - Nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo là một tên tuổi nổi tiếng như một nghệ sĩ đa tài Cầm Kỳ Thi Họa trong làng văn học nghệ thuật Việt . Ông là Ủy viên Hội đồng Thơ Hội Nhà Văn Việt Nam, người sáng lập và phụ trách tờ báo Thơ, nay là tạp chí Thơ; ông cũng là một trong những ngưới sáng lập ra Ngày Thơ VN.
DƯƠNG BÍCH HÀĐến hẹn lại lên - Festival Huế 2006 đã cận kề. Năm nay, ngoài các loại hình dân ca, dân nhạc, dân vũ; các lễ hội, kịch, tuồng... đặc sắc của Huế, ban tổ chức (BTC) Festival nhấn mạnh một số trọng tâm như: Giao lưu nhã nhạc Việt Nam - Nhật Bản - Hàn Quốc; không gian văn hoá cồng chiêng (nhân cồng chiêng được công nhận là di sản văn hoá); có dàn giao hưởng dân tộc; chương trình thử nghiệm đưa âm nhạc điện tử, nhạc Jar của Pháp kết hợp với âm nhạc truyền thống Huế, âm nhạc Phật giáo; và chương trình âm sắc Việt...
NGUYỄN XUÂN HOÀNGCó ngày bỗng dưng thấy lòng thật quạnh hiu. Một nỗi cô đơn nào đó khôn tả xâm chiếm tâm hồn. Tôi đi hoài, lang thang vô định trên những con đường phố Huế xanh xao ánh đèn vàng, bất chợt lòng vang lên giai điệu quen thuộc một ca khúc nào đó của Trịnh Công Sơn. Tự hát cho riêng lòng mình và thấy nỗi buồn vơi đi, lòng cơ hồ bằng an và niềm vui trở lại.
NGUYỄN VIỆT ĐỨCQua tiến trình phát triển của lịch sử âm nhạc thế giới, riêng trong lĩnh vực ca khúc chúng ta đều biết có những ca khúc là của mọi thời đại, có những ca khúc chỉ của một thời, có những ca khúc chỉ của một dòng nhạc phục vụ cho nhu cầu của một lớp công chúng riêng nào đó, có những ca khúc lại phù hợp với khá nhiều lứa tuổi và đông đảo công chúng, có những ca khúc chỉ của một vài ngày, có những ca khúc mãi mãi nằm trên giấy...
NGUYỄN THỤY KHAĐọc Dòng nước trong (Ca khúc Bích Anh), Nxb Đà Nẵng, 2006
HOÀNG DIỆP LẠCCó sự gắn kết nào đó gần như là định mệnh giữa hai con người Trịnh Công Sơn và Nguyễn Xuân Hoàng. Sơn và Hoàng có cùng quê quán ở huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế. Và cả hai đã sinh ra ở miền cao nguyên, nơi bụi đỏ và sương mù hoà trộn, tạo thành những hạt huyết dụ trôi chảy theo các mạch máu trong thân thể của những con người xứ bụi mịt mùng.
NGUYỄN XUÂN HOÀNG(Kỷ niệm 6 năm ngày mất nhạc sĩ Trịnh Công Sơn 1/4/2001 - 1/4/2007)Với dòng - sông - Trịnh, đi về biển rộng là một cuộc hành trình trở về với nguồn cội. Dòng sông tìm về biển cả để thấy được sự mệnh mông, hùng vĩ và tuôn trào của biển cả. Tuy nhiên đấy cũng là sự bắt nguồn cho những vết xước trầm tích trong lòng người ở lại - như cọng rễ hoang nay mới đủ sức đâm lên một mầm nhói!
NGUYỄN THỤY KHAVào khoảng năm 1962 ở miền Bắc, bỗng rộ lên một bài tình ca ngắn mang tên “Giã từ”. Bài hát được truyền miệng rộng rãi và nếu có ai đó ký âm thành văn bản thì đều ghi là bài hát Liên Xô (CCCP).