‘Nhật ký trong tù’ ở Thụy Điển

15:10 26/09/2022


VÕ BÙI LÊ LAM

Hình chụp Bìa 1 và một tranh minh họa trong Bản dịch năm 1970 - Ảnh: tư liệu

1. Sưu tầm Nhật ký trong tù bằng các ngôn ngữ Bắc Âu

Có lẽ cùng với Truyện Kiều, Nhật ký trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tác phẩm đã được dịch ra nhiều thứ tiếng nhất của văn học Việt Nam. Cho đến nay tập thơ này đã được dịch ra bao nhiêu ngôn ngữ và có bao nhiêu bản dịch? Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi thử tìm hiểu qua internet và nhận được những con số khác nhau về số ngôn ngữ, theo các năm ghi trong dấu ngoặc đơn: 11 (2015)1, 25 (2007, 2013)2, 30 (2013)3, 32 (2013)4. Với mong muốn được biết rõ hơn về vấn đề này, chúng tôi thử tìm hiểu và sưu tầm các bản dịch Nhật ký trong tù sang các ngôn ngữ Bắc Âu.

Trong các bài viết về Nhật ký trong tù đã được dịch sang tiếng nước ngoài mà chúng tôi đọc được chỉ thấy nhắc đến hai ngôn ngữ ở Bắc Âu đã có Nhật ký trong tù là tiếng Đan Mạch và tiếng Thụy Điển. Nhưng qua tìm hiểu, chúng tôi được biết ở Bắc Âu còn có Nhật ký trong tù bằng tiếng Phần Lan và tiếng Na Uy đã được dịch và xuất bản cách đây hơn nửa thế kỷ.

Nhật ký trong tù bằng tiếng Phần Lan có tên Ho Tsi Minh: Poliittisen vangin runot do nhà thơ Phần Lan, Pentti Saarikoski dịch, được xuất bản ở Helsinki lần đầu tiên vào năm 1969, sau đó được tái bản 2 lần vào năm 19705. Còn Nhật ký trong tù bằng tiếng Na Uy có tên Ho Chi Minh: Dagbok frå fengslet do nhà thơ Na Uy, Tor Obrestad dịch, được xuất bản lần đầu tiên ở Oslo năm 1969 và lần thứ hai năm 19736.

2. Bản dịch Nhật ký trong tù bằng tiếng Thụy Điển

Với sự giúp đỡ của Thư viện Quốc gia Thụy Điển và Thư viện Trường Đại học Lund (Thụy Điển), chúng tôi đã tìm được hai bản dịch Nhật ký trong tù bằng tiếng Thụy Điển là Dagbok från fängelset (Nhật ký trong tù) và Ho Chi Minh - Dikter (Hồ Chí Minh - Thơ) của nhà thơ, dịch giả Jan Kunicki. Trong một bài viết năm 2013, dịch giả Thúy Toàn có liệt kê Nhật ký trong tù bằng một số ngôn ngữ, trong đó có tiếng Thụy Điển, song chúng tôi không biết bản nào trong số hai bản dịch này được tác giả nói đến. Chúng tôi đồ rằng Dagbok från fäng có thể là bản dịch đã được sưu tầm và nói đến trong bài báo mà tôi đọc được.
 

Ảnh chụp Trang bìa và 3 trang giữa của bản dịch Dikter

2. 1. Ho Chi Minh - Dikter (Hồ Chí Minh - Thơ)

Là một cuốn sách mỏng khổ nhỏ (brochure) gồm 6 trang có kích thước 24,5 x 11cm, với 27 bài thơ có trong tập Nhật ký trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Jan Kunicki dịch sang tiếng Thụy Điển, do Författarcentrum (Trung tâm tác giả) xuất bản tại Stockholm vào năm 1969. Trong bản dịch này, tác giả không cho biết các bài thơ được dịch từ nguồn nào.

Ở trang bìa và cũng là trang 1, nửa trên in bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, phía dưới ảnh là dòng chữ HO CHI MINH và DIKTER. Còn nửa dưới có bài thơ Efter läsningen av “De tusen poeternas antologi” (Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi”). Còn 5 trang khác, bên cạnh các bài thơ, phía cuối của mỗi trang có in một bức tranh khắc gỗ nghệ thuật dân gian Việt Nam rất đẹp. Để có được bản photocopy bản dịch hiếm hoi này, từ thông tin của Thư viện Quốc gia Thụy Điển, chúng tôi đã đăng ký với dịch vụ mượn quốc tế của Thư viện công cộng Helsinki. Sau hai ngày đăng ký, chúng tôi nhận được tin báo, tài liệu này quá cũ và hiếm nên Thư viện Thụy Điển không cho mượn mà chỉ phục vụ photocopy với giá 8 euro. Sau 1 tuần, tôi nhận được thư báo đến thư viện gần nhà ở Helsinki nhận bản photo và hết sức bất ngờ không phải trả tiền, vì chất lượng bản photo không còn được tốt.

2. 2. Dagbok från fängelset (Nhật ký trong tù).

Dagbok från fängelset gồm 142 trang in trên giấy thô, khổ 15 x 19,5cm, do FIBs Lyrikklubb (Câu lạc bộ Thơ Thụy Điển) xuất bản lần đầu năm 1970 và tái bản năm 1975. Đây là bản dịch Nhật ký trong tù có dung lượng lớn nhất trong bốn bản dịch tiếng Bắc Âu, với Lời giới thiệu gồm 9 trang (tr.7-16), 3 trang “Sự thật về Nhật ký trong tù” - dịch nội dung trả lời phỏng vấn nhà báo phương Tây của Chủ tịch Hồ Chí Minh được in trong bản dịch tiếng Pháp của Phan Nhuận (tr.17-19), 2 trang giới thiệu và phân tích bài thơ “Ra tù tập leo núi” (tr. 20- 21). Bài thơ này còn được in lại ở bìa 4, phía dưới tiểu sử tóm tắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phần Nội dung gồm 97 bài thơ được dịch sang thơ tự do Thụy Điển, trong đó có 28 bài đã đăng trong Ho Chi Minh - Dikter, với một số chỉnh sửa nhỏ. Sau phần nội dung có tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh (tr. 133-138) và chú thích có trong các bài thơ (tr. 139-140). Bên cạnh các phần trên, Dagbok från fängelset còn có 5 bức tranh minh họa bằng vải cắt của họa sĩ đồ họa Thụy Điển, Svenolov Ehren (1927 - 2004). Trong lời giới thiệu, Jan Kunicki cho biết: “Hồ Chí Minh viết “Nhật ký trong tù” không phải bằng chữ Quốc ngữ mà bằng chữ Hán cổ. Tôi không biết tiếng Hán cổ. Tôi đã dịch tất cả những bài thơ này từ tiếng Ba Lan, một số bài tôi có so sánh bản dịch của mình với bản dịch tiếng Anh.”

Đáng chú ý hai lần ông dẫn lời Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc lại từ Tuyên ngôn của nước Mỹ trong bản Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngoài ra còn kể lại một số hoạt động của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm đi tìm đường cứu nước và việc ông đã đọc được tin  Chủ  tịch Hồ Chí Minh qua đời qua các phương tiện truyền thông thế giới như thế nào. Đây là Lời giới thiệu dài nhất (9 trang) trong các bản dịch Nhật ký trong tù sang các ngôn ngữ Bắc Âu và có lẽ của các bản dịch sang các ngôn ngữ khác.

3. Jan Kunicki - nhà thơ, dịch giả Ba Lan yêu quý Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Nam

Tôi thật bất ngờ khi biết được Jan Kunicki là nhà thơ, dịch giả người Ba Lan. Ông sinh ngày 1 tháng 7 năm 1938 tại Viareggio, Tuscany (Ý) và lớn lên ở Poznan (Ba Lan) trong một gia đình tương đối khá giả, cha là một bác sĩ đã tham gia cứu chữa cho nhiều nạn nhân trong Chiến tranh thế giới thứ hai ở Ba Lan.

Năm 1961, khi ở tuổi 23, Jan Kunicki du lịch đến Stockholm (Thụy Điển) và ở lại đây không trở về Ba Lan nữa. Sau hai năm sống ở Uppsala và Stockholm, Kunicki chuyển đến Lund, cách Stockholm khoảng 600km về phía tây nam. Bạn bè Thụy Điển vào cuối những năm 1960 gọi Jan Kunicki với tên thân mật là Isio. Là một người yêu thích văn học, Kunicki đã kết giao với các nhà văn và nghệ sĩ Thụy Điển. Kunicki đã học tiếng Thụy Điển và bắt đầu dịch các tác phẩm văn học, sân khấu và điện ảnh Ba Lan sang tiếng Thụy Điển. Ông cũng sáng tác thơ bằng tiếng Thụy Điển.

Tập thơ đầu tiên Det är enkelt att leva (Thật dễ sống) của Kunicki được nhà xuất bản Bo Cavefors xuất bản năm 1977. Đó là những bài thơ tự truyện, được viết từ năm 1974 đến năm 1977. Các bài thơ viết về Thụy Điển, quê hương mới của ông, về sự cô đơn và chủ đề chiến tranh. Chiến tranh cũng là chủ đề trong tập thơ cuối cùng của ông, mang tên “Krig och fred” (Chiến tranh và Hòa bình), được đăng trọn trên số 22 năm 2004 của Tạp chí Văn hóa Serum từ Malmö. Trong các bài thơ này, Jan Kunicki viết về những ký ức thời thơ ấu của mình từ Thế chiến thứ hai ở Ba Lan. Các bài thơ mô tả sự áp bức của Đức quốc xã và khao khát hòa bình.

Theo dữ liệu từ Thư viện Quốc gia Thụy Điển, Jan Kunicki đã sáng tác và dịch tổng cộng 18 tác phẩm, trong đó có 4 sáng tác (2 vở kịch, 2 tập thơ), 12 tác phẩm dịch chung và 2 tác phẩm dịch riêng là Dikter (1969) và Nhật ký trong tù, xuất bản lần đầu năm 1970 và tái bản năm 1975. Trong bản dịch năm 1969, Jan Kunicki không nói 27 bài thơ của Hồ Chủ tịch ông dịch từ nguồn nào. Nhưng ta có thể đoán được ông dịch từ bản dịch tiếng Ba Lan có tên Dziennik więzienny (Nhật ký trong tù) do vợ chồng nhà thơ Ba Lan, Maria Kurecka & Witold Wirsza dịch và nhà xuất bản Państwowy Instytut Wydawniczy xuất bản năm 1962.
 

Bia tưởng niệm và khu mộ vô danh ở Nghĩa trang Lund
Người viết tại khu mộ vô danh ở Nghĩa trang thành phố Lund, tháng 6-2022

Trong suốt thời gian ở Thụy Điển, Jan Kunicki sống trong cảnh nghèo khó, chủ yếu ở Lund và nhiều năm không có nhà. Tuy vậy, vốn là một người có tư tưởng cánh tả, ông đã tham gia rất tích cực trong phong trào phản đối chiến tranh, đòi hòa bình cho nhân dân Việt Nam. Jan Kunicki qua đời ngày 13 tháng 3 năm 2008 ở tuổi 69 tại Lund sau một thời gian lâm bệnh. Tang lễ của Kunicki được tổ chức tại Nhà nguyện Phục sinh ở Nghĩa trang Norra Kyrkogården của thành phố Lund ngày 24/4/2008.

Với mong muốn tìm đến nghĩa trang này để tìm và viếng mộ Jan Kunicki, như đã từng đến viếng mộ nhà thơ, dịch giả Nhật ký trong tù bằng tiếng Phần Lan, chúng tôi đã liên lạc với Ban quản lý nghĩa trang Norra Kyrkogården. Chỉ 2 ngày sau khi gửi email đi, chúng tôi nhận được email trả lời từ một người phụ trách nghĩa trang cho biết Jan Kunicki không có mộ và bia riêng mà bình tro cốt của ông được chôn xuống một khu vực ẩn danh gọi là “minneslund” (tiếng Thụy Điển) của Nghĩa trang. Tuy nhiên, chúng tôi cũng đã đặt vé đi Lund và đến tận Nghĩa trang Norra Kyrkogården để thăm nơi có chôn bình tro cốt của ông, song vì đại dịch Covid-19 thêm chủng mới Omicron ở cả Phần Lan và Thụy Điển nên chúng tôi đành hủy chuyến đi.

Qua một số bài viết của các đồng nghiệp của Jan Kunicki mà chúng tôi đọc được, không thấy nói đến gia đình riêng của ông. Có lẽ Jan Kunicki không lập gia đình và không có con. Chúng tôi cũng đã nhờ người bạn hiện ở Warszawa tìm hiểu thêm về Jan Kunicki từ các Thư viện và Lưu trữ ở Ba Lan, song đáng tiếc là không tìm được tư liệu gì bằng tiếng Ba Lan và ở Ba Lan về ông.

Như vậy, từ một số tư liệu ít ỏi bằng tiếng Thụy Điển, giờ đây chúng tôi chỉ biết được Jan Kunicki đến Thụy Điển năm 23 tuổi. Sáu năm sau (1969), với tình cảm yêu quý, khâm phục Chủ tịch Hồ Chí Minh và cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam ở tuổi 29, ông đã dịch và công bố 27 bài thơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh sang tiếng Thụy Điển và 1 năm sau (1970), ông đã dịch tiếp 69 bài thơ khác trong Nhật ký trong tù và xuất bản lần thứ nhất. Năm 1975, bản dịch này được xuất bản lại lần thứ hai. Hiện nay cùng với 16 tác phẩm khác, hai bản dịch Nhật ký trong tù của Chủ tịch Hồ Chí Minh do Jan Kunicki thực hiện có mặt ở 26 thư viện công cộng trên khắp Thụy Điển.

V.B.L.L
(TCSH46SDB/09-2022)

 

------------------------------
1https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/c-mac-angghen-lenin-ho-chi-minh/ho-chi-minh/nghien-cuu-hoc-tap-tu-tuong/tap-nhat-ky-trong-tu-cua-bac-ho-da-duoc-dich-ra-bao-nhieu-thu-tieng-va-dich-tu-nm-nao-2109
2http://www.tapchivannghedatto.org.vn/tintuc.aspx?ID=687
3 http://ditichhochiminhphuchutich.gov.vn/ban-be-quoc-te-va-tac-pham-nguc-trung-nhat-ky--557
4 https://nhandan.vn/vanhoa/ra-mat-ban-dich-nhat-ky-trong-tu-tieng-an-ba-ni-245687/
5 https://kinhtedothi.vn/ban-dich-nhat-ky-trong-tu-bang-tieng-phan-lan-chua-duoc-biet-den-409560.html
6 https://vietvafin.wordpress.com/2021/01/20/mot-ban-dich-nhat-ky-trong-tu-bang-tieng-na-uy-chua-duoc-biet-den/

 

 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
  • PHẠM NGUYÊN TƯỜNG              Tản mạn từ Bruxelles Dưới mái hiên trạm gác cũ Porte de Ninove gần chỗ tôi ở có sống một cư dân đơn độc và lưu niên. Gã bù xù, tôi chỉ biết gọi gã như thế, nom chỉ trạc ngoài ba mươi nhưng có vẻ như đã cũ nát lắm rồi. Không ai biết gã từ đâu dạt vào, ở đó từ bao giờ.

  • TRẦN THÙY MAI.Năm giờ sáng, máy bay chở chúng tôi đáp xuống sân bay Incheon. Giọng nói ngọt ngào của nữ tiếp viên vang lên với lời cảm ơn và câu chào tạm biệt, sau khi báo một thông tin làm chúng tôi ớn lạnh: Nhiệt độ bên ngoài là 4 độ C...

  • ĐẶNG NHẬT MINHLà một thương cảng của Nhật Bản, nhưng Fukuoka lại được nhiều người biết đến như một thành phố của nhiều hoạt động văn hoá mang tầm quốc tế. Tôi có duyên nợ với thành phố này từ năm 1991 khi được mời tham dự Liên hoan phim quốc tế Fukuoka lần thứ nhất với bộ phim Bao giờ cho đến tháng 10.

  • PHẠM XUÂN PHỤNGChữ tea trong tiếng Anh là do dùng mẫu tự La -tinh để ký âm chữ trà (âm Hán Việt) mà người Trung Hoa nói rất rõ là chè. Lâu nay cứ tưởng chè là tiếng thuần Việt hoặc là biến âm của trà, hóa ra chè lại là từ gốc của trà. Mẹ mà nhầm là con, vui thật.

  • BÙI NGỌC TẤNLần đầu tiên đặt chân tới Châu Âu, có biết bao nhiêu ấn tượng. Ấn tượng về những nét mặt người, về những dáng người đi, về bầu trời không vẩn bụi trong veo, về những xa lộ, về những chiếc xe phóng với tốc độ 140 kilômét không một tiếng còi, nối nhau trên các con đường tám đến mười làn xe chạy không còn biên giới cách ngăn...

  • NGUYỄN VĂN DŨNGCó người nói Praha đẹp hơn Paris . Tôi không tin. Nhưng bây giờ thì tôi thấy nhận xét ấy không phải không có căn cứ. Praha là thành phố cổ kính nguyên vẹn nhất châu Âu, là “thành phố của trăm tháp vàng”, là “bài thơ bằng đá”, là khúc hát đắm say, là cốc rượu nồng nàn, là bức tranh tuyệt mĩ, là mảnh thời gian còn sót lại... Năm 1992, Praha được công nhận là di sản văn hoá thế giới.

  • PHẠM THỊ CÚCCó người nghĩ rằng, ở các nước giàu, thì ít người thất nghiệp. Không đâu, ở Pháp, người thất nghiệp cũng khá nhiều, mà đâu phải vì không có bằng cấp mà thất nghiệp, đa số họ đều có bằng kĩ sư, cử nhân, cả thạc sĩ hẳn hoi.

  • NGUYỄN VĂN DŨNGAmazon là tên khu rừng lớn nhất thế giới. Amazon cũng là tên con sông, theo khảo sát mới đây, là con sông dài nhất thế giới. Amazonas, quê hương của hai Amazon kia, là bang rộng nhất trong 26 tiểu bang của Brasil - rộng hơn cả diện tích của nước Anh, Đức, Pháp, Ý cộng lại. Còn Manaus, là kinh đô của Amazonas miên man núi rộng sông dài.

  • NGUYỄN VĂN DŨNG    Tôi thật sự xúc động khi đứng trước ngôi mộ của Lý Tiểu Long. Trước đây tôi hình dung nơi an nghỉ cuối cùng của anh phải là một ngôi đền cực kỳ tráng lệ cho xứng với tên tuổi lẫy lừng của anh. Sau khi anh mất, một tờ báo ở Sài Gòn hồi đó viết đại loại trong thế kỷ XX, anh là một trong ba nhân vật nổi tiếng nhất châu Á.

  • NGUYỄN VĂN DŨNGVới Phật giáo, Linh Thứu là ngọn núi thiêng. Sau khi thành đạo, một thời gian dài Linh Thứu là trú xứ của đức Phật và các đệ tử của Ngài. Tại đây Ngài đã giảng kinh Pháp Hoa và nhiều bộ kinh quan trọng khác. Linh Thứu còn là nơi khởi phát dòng Thiền Ấn Độ để rồi từ đây hạt giống Thiền được gieo trồng khắp nơi trên trái đất.

  • PHẠM PHÚ PHONGTrong lịch sử đất nứơc Trung Hoa có sáu nơi được chọn làm thủ đô, theo thứ tự Lạc Dương, Tây An, Nam Kinh, Khai Phong, Hàng Châu và Bắc Kinh là thủ đô thứ sáu, tồn tại cho đến ngày nay. Bắc Kinh đầu tiên là kinh đô của nước Yên, nên còn gọi là Yên Kinh, sau đó đến thời Minh Thành Tổ cho xây dựng trở thành Bắc Kinh ngày nay. Với diện tích 18.826 km2, Bắc Kinh rộng gấp 18 lần so với thủ đô Hà Nội, được mệnh danh là thành phố bốn nhiều: nhiều người, nhiều xe, nhiều cầu vượt, nhiều di tích...

  • Từ một trại lính đầy vết đạn ở vùng California (Hoa Kỳ) đã xuất hiện một tu viện Phật giáo - Tu viện Lộc Uyển - do nhà sư gốc Huế - Thiền sư Thích Nhất Hạnh - gầy dựng. Tại đây, ảnh hưởng của Thiền học Việt Nam đã tạo được một sự chuyển hóa đầy thử thách: biến trung tâm luyện tập bắn súng trở thành thiền đường đầy ánh sáng và tình thương, có ảnh hưởng rất lớn đối với nhiếu người ở Hoa Kỳ.Sông Hương xin giới thiệu bài viết của Teresa Wattanabe đã đăng trên tờ Los Angeles Times, tờ nhật báo lớn hạng ba của Hoa Kỳ, với bản dịch của Làng Mai và ảnh của Nguyễn Đắc Xuân để giới thiệu với bạn đọc như một dòng chảy của văn hóa Phật giáo xứ Huế.

  • TRẦN THÙY MAICác quan chức ngành khí tượng Nhật Bản đã cúi gập mình xin lỗi toàn dân: Hoa anh đào sẽ nở ngày 23 thay vì 16 - 3 như dự báo. Đến sân bay Narita vào đúng sáng 24, tôi tự nghĩ mình đến rất kịp thời, nên khi cậu cảnh sát làm thủ tục nhập cảnh hỏi về mục đích đến Nhật, tôi đã không ngần ngại trả lời chắc nịch: “Ngắm hoa anh đào”. Cậu cảnh sát khoanh cái rụp vào lời khai của tôi và “OK” ngay với một nụ cười trên môi.

  • NGUYỄN VĂN DŨNGNằm giữa trung tâm bán đảo Iberia, thủ đô Tây Ban Nha trải rộng trên các ngọn đồi dưới chân rặng Sierra de Guadarrama, ở độ cao 640m so với mặt nước biển - là thành phố cao nhất châu Âu. Diện tích 607 km2. Dân số gần 4 triệu người.

  • KEVIN BOWEN
    (Giám đốc WJC)

    LTS: Trong 25 năm qua tên tuổi nhiều nhà văn, nhà thơ của Trung tâm William Joiner (Đại học Massachusetts - Hoa Kỳ) như Kevin Bowen, Fred Marchant, Nguyễn Bá Chung, Lady Borton, Martha Colline, Bruce Weigl, Lary Heinemann... đã xuất hiện trên Sông Hương cũng như trên nhiều báo chí văn nghệ, văn hoá trong nước với những tác phẩm tâm huyết, mến yêu đất nước Việt Nam cũng như những hoạt động trên các lãnh vực giao lưu văn hoá, giúp đỡ y tế, giáo dục cho Việt Nam sau chiến tranh, như những biểu hiện của sự ân hận, tủi hổ với những gì mà đất nước họ đã gây ra trên mảnh đất này.

  • NGUYỄN BÁ CHUNG

    Tháng 10 năm 2007 đánh dấu 25 năm thành lập trung tâm Joiner. Nhưng với tôi, nó đánh dấu một đoạn đường 20 năm nổi chìm với trung tâm, trong đó có 15 năm làm thiện nguyện và 10 năm cuối cùng làm việc chính thức. Hai mươi năm là một thời gian dài đủ để nhìn lại, ghi lại một số kỷ niệm và rút ra một số kinh nghiệm để nhìn tới đoạn đường phía trước.

  • NGUYỄN ĐẮC XUÂNHoạt động yêu nước ở miền Nam từ những năm sáu mươi của thế kỷ trước, tôi không lạ gì nước Mỹ. Thuở ấy, Phan Ch. anh bạn vong niên của tôi làm phiên dịch ở cơ quan MACV ở Huế từng bảo tôi “Người Mỹ giống như một cậu bé con nhà giàu nhưng thiếu lễ độ”.

  • VÕ QUÊNhận lời mời của Hội đồng quốc gia vì nghệ thuật truyền thống Hoa Kỳ (National Council for the Traditional Arts), đoàn nghệ sĩ thuộc Hội Văn học nghệ thuật Thừa Thiên Huế đã tham dự Festival dân ca dân nhạc tại thành phố Lowell, bang Massachusetts, Hoa Kỳ từ ngày 25-7-1995.

  • NGUYỄN XUÂN THÂMChúng tôi đến Aten vào cuối tháng chín, mà buổi trưa vẫn còn oi bức như bao trưa miền biển ở Việt . Thanh Tùng và tôi loay hoay mãi vẫn không bắt được taxi để chuyển tiếp đến sân bay nội địa.

  • NGUYỄN VĂN DŨNGSau Cali tôi định đi Dallas, nhưng rồi chuyển hướng, tôi lên Seattle theo vẫy gọi của bạn bè. Ai ngờ cái thành phố nầy dịu dàng, xanh và đẹp đến vậy. Hèn chi người ta gọi nó là “Thành phố ngọc bích” ( Emerald City ), hay “Mãi mãi xanh tươi” ( Evergreen State ).