“Người xẩm của kháng chiến”

09:28 28/05/2009
NGUYỄN HUY THẮNGNhững ngày đầu tháng 12-1954, người dân Hà Nội và khắp các vùng xung quanh nô nức kéo đến Nhà hát Nhân dân xem “văn công”. Văn công là từ bấy giờ dùng để chỉ những buổi biểu diễn văn nghệ trên sân khấu nói chung. Nhưng đợt “văn công” cuối năm 54 ấy mang một tính chất đặc biệt, vì là một đại hội có quy mô lớn (Đại hội Văn công toàn quốc), từ kháng chiến về, lần đầu tiên ra mắt công chúng Thủ đô vừa thoát khỏi ách tạm chiếm.

Nhà thơ Thanh Tịnh

Nhà hát Nhân dân nằm ở chỗ nay là Cung văn hóa Hữu nghị, tuy không sang trọng như Nhà hát Lớn, nhưng cũng là một địa chỉ văn hóa nổi tiếng một thời. Khán giả dự Đại hội đều là khách mời, song nhiều người không có vé vẫn kéo đến đông nghịt, đứng ngóng quanh rạp như cố đoán xem bên trong đang diễn ra những gì. Thế rồi có hai người dìu nhau đến trình giấy của đại biểu, thoạt trông đã biết ngay là người khiếm thị. Họ tự xưng là “xẩm”, có giấy mời nên xin vào “nghe”. Nghi là họ ăn cắp giấy ra vào, một vị trong Ban tổ chức lập tức giao họ cho bên công an để xét hỏi. Việc đến tai Thanh Tịnh, nhà thơ tá hỏa đi hết các đồn công an tìm họ. Đến khi đưa được họ ra, họ tủi phận khóc và nhà thơ cũng khóc.

Sự thực, đó là những nghệ nhân được mời đến dự Đại hội Văn công toàn quốc, đại diện cho những người hành khất vẫn ngồi ở các góc chợ, bến bãi hát phục vụ người qua lại, đóng góp không ít vào việc tuyên truyền chủ trương chính sách. Thương họ mù lòa, mến mộ tài nghệ thực sự của nhiều người trong số đó, lại thêm “đồng cảm” với tình cảnh của những người bị xem thường, thậm chí hắt hủi, nhà thơ Thanh Tịnh trong Ban tổ chức Đại hội đã bàn với nhà thơ Hoàng Trung Thông mời hai đại biểu trong đoàn nghệ nhân. Ai ngờ sự thể lại diễn ra như thế, khiến nhà thơ xứ Huế đã tâm trạng lại càng thêm tâm trạng...

Nhà thơ Thanh Tịnh sinh năm 1911 ở một làng ven sông Hương. Cuối năm 1946, tác giả Quê mẹ, Rồi một hôm, Mòn mỏi... được mời ra Hà Nội dự Đại hội Văn hóa toàn quốc, một sự kiện lớn trong đời sống văn hóa nước nhà sau ngày độc lập. Xong đại hội, nhà thơ chưa kịp trở về quê thì Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, ông hăng hái cùng các văn nghệ sĩ đất Bắc ra đi kháng chiến. ở Việt Bắc, ông tham gia ban kịch Chiến thắng của ông Thế Lữ. Trong số các tài liệu của cha tôi - nhà văn Nguyễn Huy Tưởng để lại, có một tờ biên bản ghi buổi họp kịch giữa các ông Tố Hữu, Thế Lữ, Thanh Tịnh và cha tôi. Cuộc họp diễn ra vào 7 giờ tối ngày 7-6-1948 tại nhà ông Thế Lữ ở Bạch Giang, và theo như người viết biên bản là Thanh Tịnh ghi lại, chương trình nghị sự chủ yếu bàn về các tiết mục sẽ diễn trong Đại hội Văn hóa và Đại hội Văn nghệ toàn quốc dự kiến vào tháng 7 tới. Bên cạnh các vở kịch được chọn như Cụ đạo sư ông của Thế Lữ, Ba người thợ của Lưu Quang Thuận, Điên của Thanh Tịnh..., còn có các màn độc tấu Đọc trang lịch sử, Bắn cả hai, Sông Lô chiến thắng... cũng của Thanh Tịnh. Đến lúc này, “độc tấu” đã trở thành một “thương hiệu” của nhà thơ xứ Huế, khá có ảnh hưởng trong đời sống văn nghệ kháng chiến và còn chưa bị tiếng thị phi!

Nhà thơ Thanh Tịnh còn nhớ như in sự ra đời đứa con tinh thần này của mình, như ông đã kể lại trong số tạp chí Văn học tháng 5/1984. Đầu xuân năm 1947, ông về công tác ở một vùng gần chùa Trầm, Hà Đông. Tại đây ông được nghe bà con kể câu chuyện một anh du kích xã Tây Mỗ lập mẹo đến gần tên lính Pháp gác kho súng đạn, rồi bất thần xông vào vật hắn xuống đất. Nhưng tên giặc quá to và rất khỏe, hắn chống cự quyết liệt. Hai người cứ thế ôm ghì nhau lăn lộn trên mặt đất. Anh du kích thứ hai vội vàng chạy đến, súng lăm lăm trên tay. Nhưng sợ bắn phải bạn, anh không dám nổ súng. Anh du kích đang vật nhau với địch liền thét to, ra lệnh cho bạn: “Bắn! Bắn cả hai!” Thế là đoàng! đoàng! - tên giặc bị ăn đạn, nhưng anh du kích cũng bị thương nặng. Cùng lúc đó, du kích bố trí bên ngoài ào ào xông vào phá tan kho vũ khí của giặc...

Câu chuyện giản dị ấy đã làm nhà thơ vô cùng xúc động. Ông ao ước được kể lại cho nhiều người cùng nghe. Sau một thời gian mày mò, tìm kiếm hình thức cho phù hợp, ông làm thành một chuyện kể bằng văn vần và gọi là độc tấu. Tuy vậy, ban đầu ông phải nhờ người khác đọc hộ, vì ông sợ giọng Huế của mình khó hấp dẫn người nghe. Nhưng rồi ông cũng tự kể và không ngờ được mọi người ưa thích, hoan nghênh nhiệt liệt. Từ màn độc tấu đầu tiên, tiến đến bài thứ hai, thứ ba, rồi thành cả một chương trình độc tấu. Ông biểu diễn cho bà con ngay bên bờ sông Lô, giữa tiếng gió gào, sóng vỗ. Ông biểu diễn cho bộ đội Trung đoàn 174 ngay trên đường hành quân đêm chặn đánh giặc, không đèn không đuốc do phải giữ bí mật. Ông biểu diễn tiết mục Đọc trang lịch sử cho Bác Hồ, Tổng Bí thư Trường Chinh và đồng chí Léo Figuerre, ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Pháp, nghị sĩ Quốc hội, sang thăm ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân ta... Nhớ lại lời mẹ dặn: “Nói ít hơn nói nhiều. Tốt hơn nữa là không nói”, nhà thơ càng cảm thấy tự hào. Ông quê xứ Huế, đất đế đô, chỉ một lời nói vô ý cũng có thể dẫn đến tội khi quân, phạm thượng. Ai ngờ giờ đây, ông không chỉ “độc tấu” cho bộ đội, nhân dân, mà còn có vinh dự phục vụ lãnh tụ cùng thượng khách quốc tế...

Nhưng cũng ai ngờ, chỉ ít lâu sau, đứa con tinh thần này đã gây cho ông không ít sóng gió. Độc tấu, niềm đam mê của nhà thơ xứ Huế, đã “được” một số người để mắt tới với không mấy thiện cảm. Chẳng hạn, Đoàn Phú Tứ, người có vai trò không nhỏ trong ngành sân khấu những năm này đã phê phán: “Điều không ngờ là một nhà thơ trữ tình như Thanh Tịnh lại đi làm trò hề, trò xẩm!”. Nói Thanh Tịnh làm “trò xẩm” - không sao, vì bản thân nhà thơ có lần ở khu 3 cũng tự nhận mình là “người xẩm của kháng chiến”, như trong bức thư ông viết cho cha tôi hồi đầu hòa bình lập lại (về chuyện này tôi xin được trở lại sau). Nhưng phản đối độc tấu, hạn chế độc tấu - điều này hẳn là một nỗi đau khó mà chịu nổi đối với nhà thơ. Tại Hội nghị tranh luận văn nghệ ở Việt Bắc, diễn ra vào cuối tháng 9-1949, có một buổi dành riêng để tranh luận về “Độc tấu của Thanh Tịnh”. Ngay đầu phiên họp, nhà thơ đã tỏ ra “thành khẩn”: “Đứa con độc tấu trước đây tôi không hiểu rõ có được công nhận hay không, thì hôm nay nó đã được gọi đến tên. Độc tấu chính là một đứa con hoang. Sự hoài nghi của anh em làm tôi cũng hoài nghi”. Giữa những ý kiến khen chê khá là khác nhau, giữa những phân vân không rõ độc tấu là hay hay dở, nghệ thuật hay phi nghệ thuật, làm vui hay coi thường quần chúng..., nhà thơ chỉ biết thấp thỏm hỏi: “Hỡi anh em? Giữ hay bỏ độc tấu? Giữ thì xin chỉ vẽ cho”...

Sau kết luận mở của Tố Hữu, vấn đề độc tấu được gác lại để Thanh Tịnh tự rút kinh nghiệm, làm sao phát huy được tốt nhất thể tài này. Cuối năm 1950, khi tham gia phục vụ chiến dịch Biên giới, nhà thơ vẫn tiếp tục sáng tác và biểu diễn độc tấu (bài Lão dân quân Đông Bắc). Sau đó, ông được quân đội phân công về Bình Trị Thiên, gần quê nhà. Bấy giờ cũng là lúc bắt đầu phong trào chỉnh huấn. Ông sáng tác độc tấu ít dần, vì sau khi được học tập, ông cảm thấy khó viết hơn vì sợ sơ hở, mất lập trường. (Lời mẹ dặn có thể còn chưa vội, chứ chính trị học rồi, nhất định là phải quán triệt ngay.) Cũng may, nhà thơ, nhà tuyên truyền Thanh Tịnh đã sớm tìm được một hướng sáng tác mới, hợp với tạng mình. Ông chuyển sang viết ca dao.

Ban đầu, nhà thơ sáng tác những bài ngắn, phục vụ kịp thời những nhiệm vụ trước mắt của địa phương: Tăng gia sản xuất, Động viên đóng thuế nông nghiệp, Bài trừ hàng xa xỉ phẩm... Đến đầu năm 1953, ông theo Đoàn dân công trở ra Bắc tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Hòa bình lập lại, ông đi cải cách ruộng đất, liên miên hết đợt này đến đợt khác. ở đâu và bao giờ, ông cũng làm ca dao phục vụ bà con, phục vụ công tác được giao.

Hạnh phúc thay cho nhà thơ khi được nghe những vần điệu nôm na của mình cất lên thánh thót trong đêm trăng, theo điệu hò của bà con tát nước chống hạn:

Trông trời trông đất trông mây
Không bằng trông ở sức tay của mình...

Hay khi thấy nông dân quét vôi trắng tấm bia trước nhà địa chủ để viết lên trọn bài “Nghe lời Bác dạy”, trong đó có câu:

... Đừng để ao cá vắng tăm
Chuồng gà vắng trứng buồng tằm vắng tơ...

Nhà thơ lại càng tự hào phấn khởi khi chứng kiến một cán bộ, trong lúc nói chuyện với bà con dân công đắp đê chống lụt, đã vận dụng những vần thơ nôm na của ông như một câu tục ngữ tự ngàn đời:

... Dễ trăm lần không dân cũng chịu
Khó vạn lần dân liệu cũng xong...

Nhưng rồi, không rõ từ lúc nào, nhà thơ linh cảm thấy mình “được” đối xử có phần đặc biệt. Mấy tác phẩm ông gửi đến nhà xuất bản đều bị từ chối vì những lý do không đâu (tập kịch thì bản thảo bị để đâu mất, chưa tìm ra, tập truyện ngắn người bảo đề tài cũ - chuyện kháng chiến, người thì bảo khí mỏng (?). Một tập ca dao - Sức mồ hôi - ông gửi dự thi thì được một nhà thơ có tên tuổi báo là không xét, vì đã bị quên mất (!); nhà thơ này còn than giúp cho một câu bằng tiếng Pháp: “Những người vắng mặt thường hay lầm”.

Nhà thơ cả nghĩ bỗng đâm nghĩ ngợi. Phải chăng ở trên có “chủ trương” gì với mình? Phải chăng mình đã mắc khuyết điểm gì để bị xử lý? Ngẫm đi ngẫm lại, nhà thơ không tìm ra lý do. Tám năm mặc áo lính, một năm ba cùng với nông dân, xét lại, ông không làm gì sai trái cả. Thậm chí trong cải cách ruộng đất, ông còn được ba bằng khen và hai tặng phẩm của Khu. Mấy lần về Hà Nội, ông vẫn định bụng tìm gặp ai đó để hỏi cho ra nhẽ. Nhưng rồi vẫn lần lữa, ngại ngần. Một buổi trưa nọ, ông đang đạp xe lòng vòng chưa biết dừng ở đâu, ăn vào đâu ở cái đất Hà Nội lạ nước lạ cái thì vừa may gặp nhà văn Nguyễn Đình Thi, một người lãnh đạo văn nghệ. Không những thế, lại còn được ông Thi mời về nhà chơi, ăn cơm trưa. Ăn xong, nhà thơ đã định trình bày thắc mắc của mình, nhưng cảm thấy ông Thi có phần bận việc, lại thêm nỗi cảm động về sự tiếp đón niềm nở của chủ nhà nên lại thôi, không trình bày gì nữa. Rút cục, nỗi thắc mắc vẫn còn nguyên đấy.

Thế nào mà nhà thơ lại nghĩ đến cha tôi, người mà ông đã từng gắn bó tin cậy khi ở Việt Bắc. Hồi ấy, quãng năm 1950, cha tôi đến tìm gặp nhà thơ ở quán Lô Giang bên bến Ao Châu (Phú Thọ). Bấy giờ, ông đang bị mang tiếng “bê tha”, do trong nếp sống không thực hiện đúng khẩu hiệu “cách mạng hóa tư tưởng, quần chúng hóa sinh hoạt” như đã được đề ra cho văn nghệ sĩ. Nhà thơ tin chắc mình sẽ bị ông đại diện Hội Văn nghệ khiển trách nặng nề. Nhưng không, ông Tưởng chỉ động viên nhà thơ yên tâm kháng chiến, đồng thời cũng rất thông cảm với bạn về những gì đã xảy ra. Cùng cánh văn nghệ sĩ với nhau cả, xem ra ông quá hiểu, nếu bạn có hơi “vượt rào” một tí cũng là lẽ tự nhiên. Rồi đến cái lần nhà thơ được quân đội điều động về vùng quê hương. Ban đầu ông Tưởng chưa biết thực hư, lại tưởng nhà thơ rời bỏ kháng chiến. Đến khi rõ chuyện, ông mừng phát khóc. Thanh Tịnh nghe tin, cảm động quá, cũng rơm rớm nước mắt. Chưa có dịp hội ngộ, nhưng kết thúc có hậu của câu chuyện đã khiến nhà thơ coi ông Tưởng như một Châu Long đối với một Dương Lễ là mình, trong tích chèo cổ cảm động “Lưu Bình Dương Lễ”...

Không, ngay cả với một người bạn sẵn lòng thông cảm như ông Tưởng, ông cũng không muốn làm phiền về những chuyện riêng tư của mình. Hiềm nỗi, ông lại được các ông Tố Hữu, Hoài Thanh giao việc gây dựng cho các anh chị em nghệ nhân Thủ đô, tức là những người hát xẩm có thực tài. Công việc tuy nhỏ nhưng ông sốt sắng nhận, vì tình thương và lòng đồng cảm. Họ là những người sống lang thang, không nơi nương tựa, thậm chí có khi còn bị xua đuổi. Thế nhưng họ vẫn quyết tâm theo nghề. Với những thứ kèn lá đa, kèn ống đu đủ... họ vẫn làm vui được thiếu nhi và bộ đội; với tiếng đàn nhị và lời hát, họ không chỉ phục vụ văn nghệ mà còn làm công tác tuyên truyền nơi bến xe, trên tàu điện, tàu hỏa, dưới bờ sông, trong quán nước... Trang bị cho họ một bộ đàn, sáo, cấp tiền cho họ có được manh áo lành lặn để biểu diễn quả thực không phải là quá tốn kém, có khi chả bằng tiền cho một chiếc kèn hơi, thế mà đề nghị mãi vẫn chẳng được. Lại đến vụ vừa rồi, họ được mời hai đại biểu đến dự Đại hội Văn công toàn quốc, thì cũng bị bắt giữ. Như giọt nước tràn li, việc này nhất định ông không thể giữ mãi trong lòng...

Ngày 13-6-1956, từ nơi nhà thơ đang tham gia cải cách ruộng đất bước 4 ở xã Tiền Phong thuộc đoàn 11, Nam Hưng Yên, ông đã dành ra hai ngày liền viết cho cha tôi một lá thư hàng chục trang, kể hết sự tình. Đó cũng chính là một số nội dung tôi vừa thuật lại với bạn đọc ở những dòng trên. Xin được trích một đoạn để kết thúc bài viết này, bài viết không có tham vọng nói về sự nghiệp lớn lao, đa dạng của ông, mà chỉ xin được lẩy ra một trường đoạn trong cuộc đời của nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch, nhà “độc tấu” và cả “người xẩm của kháng chiến” Thanh Tịnh, như ông từng tự nhận trong thư gửi cha tôi: “Một lần ở khu 3, Tịnh tự giới thiệu mình chỉ là người xẩm của kháng chiến, một đồng chí Tuyên huấn Khu cho Tịnh tự hạ mình quá. Tịnh lại thấy mình tự đề cao. Vì sự thật tìm người phụ trách một đoàn văn công lớn và đẹp vẫn dễ hơn tìm người phụ trách một đoàn nghệ nhân lúc “hành quân” họ phải đưa tay vịn vào vai nhau để lần mò tìm đường... Thương lấy họ anh ơi!”

N.H.T
(242/04-09)

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • TRẦN THỊ TRƯỜNGBước chân vào cái ngõ 45 Phan Bội Châu gặp mùi bánh trứng nướng thơm phức bao trùm, ngỡ ngàng: “Ông Trần Đình Hiến còn là một chủ lò bánh?”. Nhưng: - Không phải đâu. Khu nhà này hầu hết là mấy anh em ruột chúng tôi sinh sống. Lò bánh này của một chú, còn các người khác mỗi người một nghề. Các em tôi đều chịu khó. Vâng, bây giờ ai chẳng lấy chịu khó làm đầu...

  • Chính Bùi Hiển dẫn lời bạn ông nói rằng văn ông đi từ hướng ngoại đến hướng nội, hàm ý chín dần, mỗi ngày mỗi gần hơn với cốt lõi văn chương. Tôi không thấy như vậy.

  • NGÔ MINHSau hai cuộc hành trình vất vả hơn 2600 cây số đi về Đại hội Nhà văn khu vực miền Trung ở Nha Trang giữa tháng 3, rồi Đại hội Nhà Văn Việt Nam VII, bắt đầu từ 22/4 đến 10 giờ rưỡi đêm 27/4 tôi mới về tới nhà mình ở Huế, ngồi trước máy vi tính viết những dòng  buồn vui lẫn lộn.

  • THANH THẢO                           6 năm nay, kể từ cái đêm thơ nhạc kỷ niệm 40 năm đường 559 do nhà thơ Phạm Tiến Duật dẫn chương trình, trong đêm ấy Tế Hanh vì quá xúc động khi nhớ lại chuyến đi qua Trường Sơn của mình đầu năm 1974, ông đã bị xuất huyết não. 6 năm ấy, không thể có một cuộc phỏng vấn hay “gặp gỡ” nào được thực hiện với Tế Hanh, đơn giản vì ông không nói được. Tôi nghĩ, 6 năm nay, Tế Hanh chỉ còn trò chuyện với dòng sông của mình, dòng sông của đời mình, trong im lặng. Vì thế, những cuộc trò chuyện tôi kể sau đây đều thuộc về thời gian trước khi Tế Hanh lâm trọng bệnh.

  • LTS: Kể từ khi xuất hiện với bạn đọc qua bài bút ký đầu tiên có tên là Gọi nắng và chùm thơ Đời chị trên tạp chí Sông Hương lúc tuổi đời mới hai mươi, gần 10 năm qua, Văn Cầm Hải là một “hiện tượng văn học” của nhiều cuộc tranh luận vì phong cách lập ngôn mới lạ của mình. Bước vào mùa xuân mới, đúng vào ngày sinh nhật 20/1/2005 của mình, Văn Cầm Hải đã chính thức trở thành một trong những nhà văn trẻ nhất của Hội Nhà văn Việt Nam. Vốn là người kín tiếng đến mức “lập dị” nhưng nhân dịp xuân vui này, nhà văn Văn Cầm Hải đã “bật mí” nhiều điều, từ A đến Z trong cuộc sống của anh  với Sông Hương.

  • Sáng ngày 24-2-2005 tại trụ sở 26 Lê Lợi - Huế, Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật tỉnh Thừa Thiên Huế đã tổ chức lễ tưởng niệm nhà thơ Huy Cận. Nhiều cơ quan, ban ngành tỉnh, thành phố Huế và anh chị em văn nghệ sĩ đã tới dự. Sông Hương trân trọng giới thiệu “điếu văn” do nhà thơ Võ Quê đọc trong lễ tưởng niệm.

  • NGUYỄN KHẮC PHÊ(Tưởng nhớ nhà thơ Lương An)Năm 1984, sau khi cùng anh chị em văn nghệ đón di hài nhà thơ Vĩnh Mai về Huế, nhà thơ Lương An - người đồng hương, người bạn thơ gần gũi với Vĩnh Mai đã viết bài "Đón anh về lại Huế thơ": Anh về lại Huế hôm nay / Huế đang mưa bỗng tạnh ngày nắng xuân...

  • HỒ SĨ HIỆPBa Kim, tên thật là Lý Nghiêu Đường, tự Thị Cam, sinh năm 1904, người Thành Đô, tỉnh Tứ Xuyên. Ông viết văn rất sớm, nổi tiếng trên văn đàn từ thời "ngũ tứ vận động" (1919) và hoạt động văn học sôi nổi từ những năm 30, 40 của thế kỷ trước, tên tuổi ngang hàng với các nhà văn Mao Thuẫn, Tào Ngu và Lão Xá.

  • TRUNG SƠN(Nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất nhà thơ Phùng Quán)I. Hơn mười năm trước - mùa hè 1992, một cuộc “khai quật” ở Huế đã làm chấn động dư luận. Trong lúc đào hố móng xây dựng một căn nhà tại trụ sở Uỷ ban Khoa học Kỹ thuật Thừa Thiên Huế, người ta đã phát hiện một ngôi mộ tập thể gồm 17 bộ hài cốt, một số vũ khí, đạn và 3 kỷ vật còn ghi rõ tên hiệu, đơn vị Vệ quốc đoàn hồi năm 1946.

  • XUÂN TÙNG          Chòi trống im lìm, khách ngẩn ngơ          Bình khô, rượu cạn, điếu chăng tơ          Bao giờ điếu lại reo êm ái          Nhà rộn tiếng cười, ấm giọng thơ...

  • TRẦN THỊ LINH CHIXuất thân gia đình quan lại, học giỏi nhưng lại không chịu theo đuổi đến nơi đến chốn để khoa bảng đề tên, tiến bước công danh hầu nối nghiệp nhà, cha tôi bỏ dở chương trình tú tài sau khi đậu thành chung, làm một công chức kiếm sống qua ngày, dành hết cuộc đời cho văn học. Năng khiếu phê bình của ông đã biểu hiện ngay từ thời còn đi học.

  • PHAN TRUNG THÀNHTháng giêng năm 2003, Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh tổ chức đêm thơ Nguyên Tiêu lần thứ I, theo sáng kiến thành lập “Ngày thơ Việt Nam” của Hội Nhà văn Việt Nam.

  • BẢO CƯỜNGLTS: Trên 40 năm ngâm thơ và đệm sáo cho thơ từ ra Bắc, từ trong nước ra nước ngoài, Bảo Cường hiện là một nghệ sỹ lão luyện trong nghề. Bài viết dưới đây, như chính tác giả nói: “Với lòng thiết tha mong mỏi bộ môn ngâm thơ và đệm sáo cho thơ ngày một phát triển, để mọi người và nhất là giới trẻ yêu thơ có cơ hội tìm hiểu đào sâu về hai bộ môn này.”

  • TRẦN NINH HỒLTS: Trần Ninh Hồ tên thật là Trần Hữu Hỷ. Lính Đông Bộ 1971 - 1976, 1977 - Trưởng ban Văn thơ báo Văn Nghệ. Nguyên chủ nhiệm Bảo tàng Văn học Việt …Bình quân cứ độ dăm năm, nhà thơ Trần Ninh Hồ lại có một "đợt" xuất bản thơ. Anh là cây bút sung sức trong suốt mấy thập niên vừa qua của nền thơ hiện đại Việt Nam, từ cuộc chiến tranh chống Mỹ cho suốt đến những ngày hôm nay...Nhà văn Võ Thị Xuân Hà đã có cuộc trao đổi với nhà thơ Trần Ninh Hồ trong một cách nhìn riêng biệt.

  • INRASARACác hội thảo bàn về nâng cao tính chuyên nghiệp trong sáng tạo văn học đã lôi kéo không ít nhà văn tham gia bàn cãi sôi nổi. Là tín hiệu đáng mừng: văn học Việt đang tự ý thức, tự phản tỉnh (self consciousness).

  • TRẦN ĐÌNH SỬThực tế nghèo nàn về thành tựu khoa học xã hội và nhân văn của chúng ta có thể tìm thấy nguyên nhân trong lối tư duy độc tôn một thời ở lĩnh vực học thuật. Cội nguồn sâu xa của lối tư duy ấy đang nằm trong di chứng của thời kì chiến tranh kéo dài ba mươi năm và cuộc đấu tranh ý thức hệ tàn khốc.

  • NGUYỄN THANH MỪNGKhái niệm nhà văn làm báo chắc không phải là chuyện lạ, nhất là trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay. Cánh cửa mở ra cho nhà văn tung hoành trên “sân cỏ” báo chí không đơn thuần là chuyện “cơm áo không đùa...” mà vì nơi đây, nhà văn thể hiện mình ở nhiều góc độ khác nhau, hiểu từ hai phía, nhu cầu biểu lộ tâm trạng của họ và nhu cầu của đời sống đất nước và nhân dân đòi hỏi ở họ.

  • TRƯỜNG NHÂNLTS: Cũng như cuộc đời, văn nghệ có biết bao buồn vui. Nhà văn cũng là người, cho nên có lúc cũng dở khóc dở cười bởi những chuyện ngoài văn chương. “Vạch túi cho người xem... bia” là câu chuyện hậu kì để bạn đọc chia sẻ với chuyện bếp núc làng văn.

  • NGUYÊN ANMột nhà văn đồng hương cao niên hỏi tôi:- Sao bây giờ ta mới quen nhau nhỉ?Tôi chưa kịp trả lời, ông đã nói tiếp:- Thôi, từ nay nhé!

  • THANH THẢOLTS: Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm đã về Huế. Có thể nói đấy là một sự kiện - một sự kiện trang nghiêm lặng lẽ.Là người có căn lành, cuộc trở về của ông dường như mãn vẹn. Ông đã trở về với nơi xuất phát, trở về với “ngôi nhà có ngọn lửa ấm”, trở về với tư cách một công dân thi sĩ.Sông Hương có nhã ý “cập nhật” ông từ đầu nhưng qua dò ướm, biết ông chưa muốn, Sông Hương đành để các báo bạn “post” trước.Mặc dầu “truy cập” sau nhưng Sông Hương với ông, với người Tổng Biên tập đầu tiên - Tổng Biên tập sáng lập hẳn còn nhiều duyên nợ, dài dài...