Kỳ lạ Phật bà "hiển linh" và ngôi chùa nổi ở Thừa Thiên Huế

08:20 11/12/2013

Dân làng vẫn truyền tai nhau tại gò đất bên cạnh thôn Tư bây giờ trước đây vốn là một bãi đất trống, nhưng sau một đêm mưa gió, sấm chớp đùng đoàng, đất trời rung chuyển, đến sáng ra đã thấy tượng Bà nằm sừng sững trên mặt đất, ...

Ngôi chùa và phạm vi vùng đất "nổi" nơi dân làng đến tránh lũ.

Dời chùa tới nơi có bức tượng Phật Bà Lồi

Trong dân gian vẫn còn lưu giữ chuyện Phật Bà Lồi hiền lành, luôn cứu nhân độ thế, đặc biệt là với biệt tài khống chế nước lũ, đã bao lần Bà cứu dân làng Ưu Điềm thoát khỏi lưỡi hái của tử thần khi dòng nước cứ cuồn cuộn nhấn chìm tất cả.

Chùa Bà Lồi có tên chữ là chùa Ưu Đàm, tọa lạc tại gò "đất nổi" thuộc Thôn Tư, làng Ưu Điềm (xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế). Chùa quay mặt về hướng chính Nam, lấy cánh đồng ruộng lúa làm tiền án, sau lưng có con sông Ô Lâu huyền thoại ôm lấy làm hậu chẩm.

Theo dân làng kể lại thì vào khoảng thế kỷ thứ 16, khi chúa Nguyễn vào Nam lập nghiệp, để bình định và vỗ an dân chúng, hầu hết các làng xã đồng loạt xây chùa dựng tượng để con dân sinh hoạt tín ngưỡng, ổn định tinh thần mà chăm lo làm ăn, chùa Ưu Đàm cũng ra đời trong thời điểm đó.

Trước đây, chùa Ưu Đàm không nằm tại thôn Tư mà là ở thôn Chùa, cách nền đất hiện tại gần 2km theo hướng Đông Nam. Chuyện dời chùa một cách đột ngột và ly kỳ này, cũng bởi sự xuất hiện của Phật Bà Lồi tại gò đất nổi.

Dân làng vẫn truyền tai nhau rằng, tại gò đất bên cạnh thôn Tư bây giờ trước đây vốn là một bãi đất trống, nhu cầu nhà ở lúc ấy không nhiều nên chẳng ai quan tâm đến. Nhưng sau một đêm mưa gió, sấm chớp đùng đoàng, đất trời rung chuyển, đến sáng ra đã thấy tượng Bà nằm sừng sững trên mặt đất, xung quanh là các phù điêu và tiểu thực khí tạc bằng đá xếp cạnh.

Nhận thấy đây là vùng đất linh thiêng, nên các bô lão trong làng quyết định dời chùa về thánh địa này. Ngôi chùa được dời về bên cánh tả của tượng Bà.

Ông Nguyễn Tư (ngụ Thôn Tư, làng Ưu Điềm) một vị cao niên trong làng cho biết: "Theo dòng chảy của thời gian, chùa Ưu Đàm được tu sửa nhiều lần.

Theo sách Đại Nam Nhất Thống Chí mục chùa quán, biết chùa là nơi thần thánh hiển linh, đến năm Minh Mạng thứ 2, Tân Tỵ (1821) chùa được nhà vua ban chiếu, cấp bổng lộc để trùng tu, tôn tạo.

Nhưng điều kỳ lạ thay, vào năm 1954 vùng đất này là trận địa bị giặc Pháp ném bom và bắn phá ác liệt, ngôi chùa kiên cố chẳng mấy chốc mà tan nát, chỉ riêng thánh địa Bà Lồi là không bị hề hấn gì.

Sức mạnh của thời gian và bom đạn không tàn phá được Bà, chính điều ấy khiến dân chúng nơi đây tin rằng Bà Lồi có sức mạnh kỳ bí nào đó, có thể cứu nhân độ thế giúp chúng sanh thoát khỏi hoạn nạn".

Giai thoại chuyện nước dâng, chùa nổi

Theo vị trí địa lý, thôn Tư giáp nằm sát sông Ô Lâu, vốn là vùng đất bồi tụ nên so với các thôn như Bàu, Niêm, Chùa, Chợ thì thôn Tư có nền đất yếu và thấp nhất.

Vào mùa lũ hàng năm, ở vùng đất thấp trũng và dễ sụt lún này dù những ngôi nhà được làm móng kiên cố cao hơn 2m nhưng dòng nước vẫn phăng phăng dâng trào như muốn nhấn chìm tất cả. Mạng sống của người dân như ngàn cân treo sợi tóc khi chỉ còn biết bơi trong biển nước và sống chung với những cơn lũ kéo dài.

Theo lời kể của ông Nguyễn Khoa Bạch (75 tuổi, thôn Bàu, xã Ưu Điềm) thì vốn dĩ trong làng chẳng ai biết thánh địa Bà Lồi không bị ngập nước, cho đến khi có một ông chăn vịt ở làng Vĩnh An, do chăn đồng xa nên khi lũ ùa về thì trở tay không kịp, trên đường đưa số vịt ít ỏi trở về nhà mới phát hiện được sự tình.

Ông ta kể với dân làng rằng, do không quen địa thế nên ông đi lạc vào địa phận chùa, thấy nơi này không ngập nước nên ông ghé tạm vào đây trú chân, đợi khi nào nước hạ, mưa dứt rồi trở về nhà, chứ mò mẫm trong đêm hôm thể nào cũng bị mất mạng.

Sợ kinh động nơi linh thiêng nên ông neo ghe vịt vào một gốc cây lớn, còn mình thì vào nằm tạm trong miếu Bà, quá kiệt sức nên lão ngủ từ lúc nào chẳng biết. Đến sáng mai lại, khi quay trở ra xem đàn vịt như thế nào thì thấy ghe đã lật úp, tiếc của nên ông mò mẫm lội ra hòng vực lại được chiếc ghe.

Nhưng mới đi có vài bước thì ông hụt chân, rớt thẳng xuống dòng nước sâu, quá hoảng loạn nên ông bơi lại vào bờ. Thấy kỳ lạ nên ông chú ý quan sát và nhận ra rằng dòng nước khi chảy đến nơi ông đang đứng đều rẽ sang hai bên, chứ không nhấn chìm và đánh tan những vật cản như chúng ta thường thấy.

Sau lời kể đó, dân làng đã đến đây kiểm chứng, và kỳ lạ thay, hơn 500m2 đất quanh khu vực Bà Lồi ngự trị chưa bao giờ ngập nước, mọi thứ vẫn khô ráo mặc cho ngoài kia mưa gió bão bùng, nước càng dâng cuồn cuộn thì chùa cũng nổi theo.

Ngay cả trong cơn đại hồng thủy năm 1999, nơi này vẫn chưa bao giờ ngập nước. Tin tưởng vào sự linh thiêng kỳ lạ này,  mà suốt mấy chục mùa lũ qua dân Thôn Tư đều mang cơm gạo đến đây tránh lũ, cầu xin sự chở che của Bà Lồi để mong thoát khỏi cảnh bể dâu.

Trưởng ban Hộ Tự chùa Ưu Đàm ông Trần Lý Thố (70 tuổi) cho biết: "Gia đình tôi suốt mấy đời nay nhận nhiệm vụ trông coi và săn sóc miếu Bà, nên mọi diễn biến thật hư ra sao gia đình tôi là người nắm rõ nhất.

Ngoài chuyện Bà cho dân làng đến đây tránh lũ, Bà còn cứu nhân độ thế, chỉ cần thành thật và không quá tham lam, thì ai cầu gì, xin gì cũng được Bà cho toại nguyện.

Bên cạnh miếu Bà có cây bưởi, ai xin Bà cũng cho, nhưng xin một trái thì hái một, nếu hái hai thì thể nào cũng ngồi trên cây không xuống được. Còn những ai đến đây nghiên cứu, quay phim, chụp ảnh, nếu không xin phép trước thì mọi chuyện thể nào cũng chẳng thành".

Niềm tin vào sự linh thiêng và từ bi của Phật Bà Lồi thêm một lần nữa được khẳng định, sau câu chuyện tượng Bà bị các đạo tặc đánh cắp. Nguyên tượng Bà được tạc bằng sa thạch, sau giải phóng được dân làng sơn son thếp vàng và khoác áo cà sa để thể hiện lòng thành kính. Năm 1980 những "đạo tặc" thiếu kiến thức tưởng là bằng vàng thật nên nảy sinh ý định trộm cắp.

Trong vụ xử kín, các tên trộm khai rằng lúc đầu muốn bưng cả bức tượng đi nhưng nhấc không đặng nên mới nghĩ đến việc cưa tay, cưa đầu.

Sau khi cưa được thì chúng bỏ chạy ra phía ngoài đồng ruộng, thoát khỏi nơi đây đã mới tính chuyện cạo vàng đem bán.  Nhưng càng đi chúng càng thấy nặng, dù chỉ mang theo một tảng đá nhỏ nhưng lại không lê nổi bước chân, sợ quá nên chúng bỏ của chạy lấy người hòng thoát nạn.

Ông Trần Lý Thố cho biết: "Lúc phát hiện tượng Bà bị cưa trộm, cả làng lúc đó xáo trộn lắm, ai cũng lo lắng, sợ bị Bà trừng phạt. Người dân tản ra khắp nơi tìm kiếm, dò la tin tức nhưng vẫn không có hồi âm.

Cho đến khi thấy trên cánh đồng cạnh cồn Chim gần chùa, từng đàn chim ở đâu bay về, chúng chao qua liệng lại, rồi cắm đầu nhào thẳng xuống một địa điểm trên mặt đất. Thấy lạ nên làng cử người ra xem xét, và quả đúng vậy cả bầy chim đang đậu xung quanh đầu và tay của Bà.

Dân làng lúc đó làm lễ xin thỉnh về hàn lại. Mấy ngày sau, lũ trộm cũng tự tìm đến chùa để nhận tội và xin Bà tha thứ".
Với một lòng thành kính đặc biệt, ông Thố cho biết thêm rằng: "Khu thánh địa này rộng hơn 2000m2, bằng một sức mạnh kỳ bí nào đó nên dù tồn tại hàng ngàn năm mà vẫn giữ nguyên được hiện trạng cũ.

Từ rất lâu tôi đã nghe ông bà kể về khu thánh địa này, chuyện tượng Bà nổi lên từ mặt đất, chuyện dân làng đến đây tránh lũ, những điều kỳ lạ và linh thiêng mà chẳng ai giải thích được, chúng tôi chỉ biết nhờ ơn Bà mà dân làng thoát chết.

Cho đến khi tận mắt chứng kiến chuyện tượng Bà bị cưa trộm, tuy không trừng phạt thẳng tay như các thần linh khác, nhưng sau vụ ấy dân làng chẳng ai dám mạo phạm, mà luôn kính cẩn và một lòng thờ phụng". 
Vùng đất có địa thế đặc biệt

Trao đổi với PV, ông Đoàn Văn Đính, trưởng thôn Tư (xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế) cho biết: "Qua ba trận lũ thế kỹ vào năm 1971, 1983 và 1999 thì nước vẫn không vào được chùa, vẫn còn nguyên 3 bậc cấp bước vào chùa. Lý giải về điều này, các nhà khoa học đến địa phương kết luận dưới gò đất của ngôi chùa có hệ thống rãnh thoát nước được hình thành một cách tự nhiên ở phía dưới gò. Mỗi khi nước lũ tràn đến thì thoát qua các đường rãnh này".

Di chỉ văn hóa Chăm còn lại

Nhà nghiên cứu văn hóa Chăm Pa tại miền Trung Trần Kỳ Phương cho biết, khu thánh địa này là di chỉ Chăm Pa còn sót lại, Phật Bà Lồi chính là nữ thần Xika nổi tiếng, quang cảnh xung quanh chính là đám rước và lễ vật trong lễ cưới Siva- Parvati.

Bức tượng Bà cao 80cm có đôi vú tròn căng, chắp tay ngồi kiết già trên toà sen bằng đá có phù điêu vị thần với tư thế nâng đỡ.

Hằng năm, có các đoàn khảo cổ từ cấp trung ương đến cấp tỉnh cũng như các giáo sư tiến sĩ nước ngoài đến tìm hiểu khảo sát, nhưng những chuyện linh thiêng như đã kể vẫn chưa có lời giải đáp và chưa thể kiểm chứng được.
Tuy nhiên, câu chuyện ly kỳ về miếu Bà vẫn được người dân lưu giữ và truyền cho các thế hệ con cháu

Theo Nguoiduatin


 

Đánh giá của bạn về bài viết:
0 đã tặng
0
0
0
Bình luận (0)
Tin nổi bật
  • Gần đây có một bộ tranh chân dung của các vua triều Nguyễn được vẽ mới và phổ biến, thu hút được nhiều sự chú ý của người xem. Nếu chỉ thưởng thức các bức vẽ này như những ảnh vui mắt, đầy mầu sắc thì được.

  • Vua Gia Long lên ngôi năm 1802 và qua đời năm 1820, thọ 57 tuổi. Trong tập Ngự dược nhật ký của châu bản triều Nguyễn, cho thấy những năm cuối đời nhà vua đã mắc bệnh nan y và các ngự y đã phải vất vả để điều trị.

  • “Toàn bộ cuốn sách làm bằng bạc mạ vàng, chỉ có 5 tờ (10 trang) nhưng nặng tới 7 ký, xuất hiện vào thời vua Thiệu Trị (1846), có kích cỡ 14×23 cm..."

  • Khi nói Huế rặt, tôi muốn kể chuyện chỉ có Huế mới có, không lẫn vào đâu được ...

  •  Phó giáo sư, Nhà giáo nhân dân Trần Thanh Đạm vừa qua đời lúc 8g15 ngày 2-11 (nhằm ngày 21 tháng 9 Ất Mùi), hưởng thọ 84 tuổi.

  • Đang những ngày mưa ở Huế tháng 10 này, lại nhắc đến mưa Huế, liệu đây có phải là đặc sản của Huế của mùa thu Huế, nhưng Huế làm gì có mùa thu? Hay là mùa thu Huế quá ngắn đến mức nhiều người không kịp nhận ra...?

  • Chiều 30-10,  Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thừa Thiên - Huế phối hợp Hội Khoa học Lịch sử tỉnh và Công ty CP Du lịch và Tiếp thị Giao thông vận tải Việt Nam (Vietravel) tổ chức Hội thảo khoa học “Cung điện Đan Dương thời Tây Sơn tại Huế” diễn ra tại Hội trường UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế.

  • Di tích Tam Tòa nằm ở góc đông nam bên trong Kinh thành cách bờ bắc sông Hương 300m về phía nam, qua cửa Thượng Tứ. Khu di tích Tam Toà toạ lạc tại số 23 đường Tống Duy Tân, phường Thuận Thành, thành phố Huế.

  • Từ năm 2012 đến nay, Hội Đông y Thừa Thiên-Huế đã tiếp cận và giải mã kho tư liệu châu bản triều Nguyễn đang được lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ quốc gia 1 (Hà Nội).

  • Xứ Huế không chỉ có các công trình lăng tẩm cổ kính mà còn được thiên nhiên ưu đãi ban cho sự hùng vĩ. Nổi bật trong đó là đầm Lập An với vẻ đẹp say đắm lòng người.

  • Để có thể lực cường tráng, chăn gối viên mãn, ngoài thuốc men tẩm bổ, Minh Mạng còn rèn luyện sức khỏe bằng phương pháp mà ngày nay rất phổ biến.

  • Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (Thừa Thiên-Huế) không chỉ là hệ thủy vực nước lợ lớn nhất Đông Nam Á mà nơi đây còn có những câu chuyện đầy kỳ bí được ghi chép hoặc truyền miệng từ xa xưa.

  • Đề cao vai trò cũng như trách nhiệm của người phụ nữ trong gia đình cũng như trong xã hội, lần đầu tiên tại Huế, cũng là lần đầu tiên ở nước ta, có một tổ chức giáo dục đã nêu rõ quan điểm, lập trường, bảo vệ quyền của người phụ nữ: trường Nữ Công học hội.

  • Ít người biết tượng “ông già Bến Ngự” Phan Bội Châu bên bờ sông Hương (Huế) lại có liên quan đến nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn.

  • Chiều ngày 19/10, Hội Nhà văn Thừa Thiên Huế đã phối hợp với Tạp chí Sông Hương tổ chức buổi giới thiệu hai cuốn sách “Em còn gì sau chiến tranh”  và “Biến cố 182010” của nhà văn Hà Khánh Linh.

  • Ngày kinh đô Huế thất thủ (5/7/1885), không những hàng vạn thần dân bị sát hại mà vô số cổ vật triều đình cũng bị cướp đi, kể cả ống đựng tăm xỉa răng.

  • Sau hơn 140 năm tồn tại, nhà Nguyễn đã để lại cả kho tàng cổ vật, làm nên phần hồn của di sản văn hóa Huế ngày nay.

  • Chuyên đề Phê bình Nữ quyền là một cố gắng của Ban biên tập nhằm giới thiệu những nét phác thảo ban đầu: “Người viết nữ, giới tính và trang giấy trắng” (Đoàn Huyến) đề cập Cái bẫy giới tính  - giới tính như một cái bẫy êm ái - đã làm hạn chế sức sáng tạo; vậy phải thoát khỏi cái bẫy đó như thế nào? Và có đủ cam đảm để tự “khánh thành mình” như một trang giấy trắng, mà ở đó cô đơn và tự do là những xung lực lạ kỳ để chủ thể sáng tạo có thể thăng hoa? “Những khúc quành của văn học nữ Việt Nam đương đại” (Đoàn Ánh Dương) dẫn dắt bạn đọc đi theo hành trình văn học nữ Việt Nam từ sau 1975 đến nay; xác định những khúc quành: từ sự quy chiếu của diễn ngôn dân tộc qua diễn ngôn dân sự đến diễn ngôn đặt nền tảng ở nhìn nhận về tính cá thể. 

  • Trong hành trình tìm kiếm và quảng bá những điểm đến hấp dẫn của Việt Nam, bằng những phương pháp so sánh, đối chiếu và bình chọn của các đơn vị du lịch, cộng đồng Kỷ lục gia Việt Nam, du khách trong cả nước. Vừa qua, Tổ chức kỷ lục Việt Nam đã công bố Top 45 điểm đến hấp dẫn nhất ở Việt Nam, trong đó Thừa Thiên Huế vinh dự có 6/45 điểm đến du lịch hấp dẫn được bình chọn.

  • Huế đã trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử. Ca Huế không chỉ phản ánh dòng chảy lịch sử, di sản này còn là quá trình tinh chế vốn văn hóa dân gian có nguồn gốc từ cội nguồn dân tộc Việt hỗn dung với văn hóa bản địa tạo nên một âm sắc Huế, rất riêng.