NGUYỄN THÀNH NHÂN
Khi nhắm mắt trong phút chốc, xung quanh tôi thoắt nhiên rực rỡ nắng, tôi chỉ là một đứa trẻ nhỏ, chỉ mới mười ba tuổi đầu và đang cố gắng đuổi theo người con gái ấy.”
Ảnh: internet
Rất nhẹ nhàng, rất khẽ khàng, và không hề chủ tâm áp đặt, với câu văn mở đầu Chương 1, Hoàng Mai đã êm ái mở ra một cõi mơ. Và bất giác, những người đọc chúng ta cũng chìm vào một nơi chốn mơ màng, trôi theo những hình ảnh, những tư duy, xúc cảm chập chờn, hư ảo.
Kể từ câu văn đầu tiên đó, những từ “ngủ mơ”, “giấc mơ”, “giấc chiêm bao”, “cơn mộng ảo”… cứ lặp đi lặp lại, ướt đẫm từng chương, từ đầu tới cuối tác phẩm. Những giấc mơ với mọi sắc màu, ảnh tượng, có thật và không có thật, đan bện vào cảm xúc nhân vật, đồng vọng những tiếng cười, tiếng khóc, tiếng nức nở âm thầm…
Và khi ta khép sách lại, dường như âm vang của những giấc mơ vẫn còn nhoi nhói.
Có lẽ ít có tác giả trẻ nào mượn những giấc mơ để chuyển tải một câu chuyện vốn chạm vào một loạt vấn đề thuộc loại gay go và sâu sắc hàng đầu của tuổi trẻ đương thời: mơ ước, thất vọng, tuyệt vọng, cô đơn, sự phù du của cuộc đời và tình yêu, sự rạn nứt lặng lẽ của gia đình, tình yêu (khác giới và đồng giới), và những nỗi đau thầm kín, vân vân. Đặc biệt là những nỗi đau thầm kín; của những cô gái bị xâm hại tình dục khi còn thơ ấu. Tác giả không trực tiếp lên án những kẻ phi nhân có hành vi tội lỗi đó, nhưng còn lời lên án nào nghiêm khắc cho bằng việc mô tả “cực kỳ hiện thực” những nỗi đau, những ám ảnh kéo dài của các nạn nhân.
Tôi xin không đi sâu vào phân tích những chủ đề nói trên, chỉ nêu ra một số trích dẫn “nặng ký” nhất, để độc giả tùy nghi cảm nhận và đánh giá. Những đoạn văn này tự thân chúng đã nói lên rất nhiều điều:
NỖI CÔ ĐƠN:
“Không phải chỉ Chi đâu, không phải chỉ tôi đâu, mới là những kẻ lạc loài… Dường như bất kỳ ai trên thế giới cũng có lúc là một đứa trẻ tội nghiệp nhất với câu chuyện đáng thương của riêng mình. Tất cả chúng ta đều cô đơn. Làm gì có một ai không mang trong mình một, một vài vết thương chứ? Và những đứa trẻ của một gia đình không toàn vẹn lại tiếp tục xây nên một gia đình không toàn vẹn khác.” (Trang 231).
Hay:
“Rồi càng lớn, em càng cảm giác rằng em không được giống với tất cả mọi người. Em không thể lớn giống như họ. Có một ngày em nghĩ rằng mình phải thực tế, phải trưởng thành mau thôi, thì bỗng chốc em nhận ra em không giống với chính mình nữa. Cuộc sống của em thậm chí còn tồi tệ hơn khi lột bỏ những mơ mộng điên rồ, niềm tin ảo tưởng. Tận sâu trong trái tim không ngừng mâu thuẫn, dằn xé. Không biết mình là ai, cứ kẹt lại mãi, ở một nơi chốn lưng chừng.” (Trang 243 - 244).
SỰ PHÙ DU CỦA CUỘC ĐỜI VÀ TÌNH YÊU
“Khi đợt pháo hoa đắm say cuối cùng tắt đi, là mọi giấc mơ cũng sẽ biến mất... Đó là thông lệ, báo hiệu sự kết thúc của Lễ Hội Phù Vân ở quê hương tôi. Và khi tôi nhìn quanh, mọi thứ bỗng trở nên hoang mang kỳ lạ. Nụ cười vẫn còn hồng trên môi mọi người, nhưng thoáng chốc những hạnh phúc đã kỳ vọng trở nên gượng gạo, như pháo hoa đã in trên nền trời, có gì đó vừa mới chết, vừa mới bợt phai đi.” (Trang 53).
“Chẳng tùy thuộc vào chuyện ta muốn hay không, tình cảm tự nó có quy luật của nó. Ký ức mà vẫn ngỡ mãi sống động trong em sẽ từ từ tan biến đi như tuyết tan dần trên những nhánh lá cây... Thực tế là vậy, rồi em sẽ quên tôi rất nhanh, và đó là cách mọi người chọn để lớn lên…” (Trang 135).
GIA ĐÌNH RẠN NỨT TRONG LẶNG LẼ
“Mỗi lần ba về là hai người cãi nhau suốt, ném mọi thứ vào nhau, những lời độc ác nhất... Em ghét người lớn, thực sự ghét họ, ban đầu em sợ lắm, còn không ngủ được. Nhưng về sau em nghĩ, tại sao họ không chia tay đi, chia tay cho rồi đi…” (Trang 77).
Hay:
“Tôi muốn hỏi thêm, đơn giản là hai người đã ly hôn chưa, ly hôn từ lúc nào, tại sao… tại sao. Và hàng vạn câu hỏi tại sao, nhưng chỉ thế thôi, rốt cuộc [tôi] đã im lặng. Cũng đã chẳng cần thiết nữa. Có những vết thương mà không ai công nhận, bởi nó có vẻ ngoài trông quá đỗi bình thường. Người ta lảng tránh nó đi mà thậm chí vẫn tin rằng họ làm đúng. Những người lớn ấy vẫn không bao giờ chịu nói sự thật, và tất cả mọi người trong gia đình chúng tôi vẫn chưa bao giờ có dịp ngồi lại cùng nhau để nói cho hết những hiểu lầm, khúc mắc.” (Trang 207).
Hay:
“ ‘Gia đình’ chính là chủ đề mà hai đứa cảm thấy giống nhau, như thể những vết thương luôn có cách bắt nhịp cùng đồng bọn của nó. Chi cũng như tôi, có một gia đình phân mảnh. Như rất nhiều đứa trong bọn, tôi tin rằng một gia đình toàn vẹn trong thế hệ này là hết sức bất thường. Mà chắc thế hệ nào cũng thế thôi.” (Trang 230).
TÌNH YÊU ĐỒNG GIỚI NỮ
“…còn tôi bắt đầu nói như mê. ‘Tình yêu của em, tình yêu của mọi người… kỳ thực tình yêu là gì chứ? Tại sao những điều em cảm nhận thấy đều thật xa khác với hầu hết mọi người? Em không biết nơi đâu là sự thật nữa, liệu có thể tin vào thứ gì đây? Có gì không đúng đắn khi em yêu một người con gái…” (Trang 139).
NHỮNG NỖI ĐAU THẦM KÍN
“Ông ấy đã hỏi tôi có muốn học giỏi không, có muốn tốt đẹp không. Tôi nói rằng tôi có và đi theo ông ấy. Tôi để yên khi bàn tay ông ấy luồn trong chiếc quần lót của tôi. Trong tranh tối tranh sáng, những ngón tay mũm mĩm khớp tay nổi rõ và rất bẩn. Tôi đông cứng lại, những cảm giác lần đầu tôi nhận thấy. Tôi không hiểu rõ đó là chuyện gì. Đứng yên tại chỗ, không thể thét lên. Rồi tôi vùng người chạy thật xa với một niềm tủi hổ, đau đớn cứ thấm mãi, dâng lên theo từng bước chân… Và dù tôi cố gắng miêu tả như thế nào, nó cũng cứ hài hước làm sao ấy. Nó thiếu mất một đoạn quan trọng nhất nên không bao giờ biết chắc sự thật là thế nào. Không sao nhớ được, cũng không chắc rằng đã bỏ sót điều gì không. Không biết rằng đó ký ức hay một sự tưởng tượng. Nếu là tưởng tượng - rất có thể là tưởng tượng - thì tại sao nó lại quá đau đớn đến như thế? Duy một điều tôi chắc nỗi đau ấy luôn trực diện ở đây, ngay trong tim tôi, trong đáy sâu tâm khảm của chính tôi, đợi chờ để đốn ngã tôi, bất kỳ lúc nào…” (Trang78).
Hay:
“Hơi thở ấy vẫn còn mãi bên tai tôi khi nhắm mắt, từng động chạm trên da thịt vẫn làm đau tôi như vừa mới hôm qua. Toàn bộ cơ thể này chẳng chứa đựng gì hơn, ngoài những vết thương đang mưng mủ, vẫn còn mưng mủ…
…Như thể một trò đùa, chị bị tổn thương và dày vò hết ngày này qua ngày khác. Tôi như vẫn còn trông thấy những hình ảnh ấy, như những cuộn phim chậm rãi trôi qua. Tôi nhìn thấy máu, nước mắt của chị, và những vết dao vạch trên cánh tay, trên cổ tay, khi cơ thể lớn dần lên.” (Trang 178).
*
Tác giả thuật lại câu chuyện qua lời của nhân vật “Tôi” theo cách kể chuyện thông thường, nhưng thi thoảng cũng điểm đôi chút thủ pháp “dòng ý thức”, và đặc biệt, ở Chương cuối, cô lại khai thác thủ pháp hiện thực huyền ảo, với nhân vật “Người Thu nhặt Ký ức”. Và, như đã nói, câu chuyện dù rất thật, lại cũng “rất mơ”. Hiện thực đời sống, qua phương tiện “những giấc mơ”, trở thành một cái gì đó hư ảo chập chờn, lung linh như bóng trăng dưới nước. Một bạn đọc duy lý có thể tìm thấy ở nơi này nơi khác đôi ba chi tiết không logic lắm. Ví dụ, Mimi, một cô gái bỏ nhà đi hoang từ năm 17 tuổi, lại khá am tường văn học, có kiến thức về những tác giả, tác phẩm thuộc loại “khó nhai” như Mrs. Dalloway (tiểu thuyết của Virginia Woolf), Salomé (kịch của Oscar Wilde) mà vào thời điểm thực tế khi tác phẩm này được viết vẫn chưa có các bản dịch tiếng Việt. Hay trường hợp nhân vật “Tôi”, một cô bé mê và đọc những tác giả khó nhai không kém, chẳng hạn Dostoiersky từ năm 12 tuổi. Dù việc lý giải đối với trường hợp này khả dĩ hơn. Nhưng bạn đọc ấy sẽ rộng lượng và sẵn lòng bỏ qua những chi tiết ấy, khi cảm nhận được rằng câu chuyện này là câu chuyện của những giấc mơ.
Trong tác phẩm này, các nhân vật dường như chỉ là những cái bóng của những con người thật. Không gian, và đôi khi, thời gian, cũng trở nên mơ hồ như một tấm kính nhòa hơi nước. Vì vậy, thật sự rất khó xác định cụ thể bút pháp của tiểu thuyết này.
Dù sao, tôi rất muốn gọi đó là thủ pháp “dòng giấc mơ” (stream of dreaming), và tưởng tượng biết đâu chừng sau này có một vài nhà phê bình, khi nhận định về Đung đưa trên những đám mây, sẽ gọi thủ pháp của tác giả bằng chính cái tên này. Nhưng thôi, công việc gọi tên thủ pháp tốt nhất nên dành cho thời gian, và những nhà phê bình có kiến thức chuyên sâu.
Chỉ có điều này là tôi dám chắc: tác giả đã lao tâm khổ tứ không ít trong quá trình xây dựng tác phẩm vì chủ đề khá rộng, đòi hỏi một mức độ tri thức khá thâm sâu, và quan trọng hơn nữa, niềm cảm thông sâu sắc. Có những câu, những đoạn cứ như rứt ruột ra mà viết, cứ như tác giả cũng chính là nhân vật, hoặc đã thật sự hóa thân thành nhân vật, trong quá trình sáng tác. Diễn biến tâm lý của nhân vật rất thật, dù mọi chuyện, như trên đã nói, cứ như những giấc mơ liên miên trôi chảy từ trang đầu tới trang cuối sách.
Trong những giấc mơ ấy có khá nhiều nhân vật với mọi tính cách con người đa dạng, đủ để hình thành một xã hội nhỏ bé, tuy nhiên cũng điển hình cho toàn xã hội trong nước hiện tại, nói rộng hơn là toàn cõi thế. Nhưng hai nhân vật được tác giả chăm chút nhất, yêu thương nhất, dụng công thể hiện nhất là hai cô gái: Mini, một nữ diễn viên điện ảnh; và “Tôi”, một cô bé mười ba tuổi khi câu chuyện bắt đầu, và một cô gái vừa tròn hai mươi tuổi vào cuối truyện.
MIMI
Nhân vật Mimi lấy từ nguyên mẫu đời thực nào, hay được hư cấu hoàn toàn, điều đó không quan trọng; nhưng chắc chắn những cô gái giống như Mimi không là số ít trong xã hội Việt Nam hiện tại.
Mẹ Mimi tái giá khi cô còn bé, và rồi ngày nọ, một sự cố bi thảm xảy ra: cô bị người cha dượng tước đoạt đời con gái vào sinh nhật thứ mười ba. Sự thật luôn trần trụi, và mọi tô vẽ đều vô ích. Sự thật bi thương này, được tác giả thể hiện một cách chân xác lạ lùng, quá đủ để người đọc cảm nhận được nỗi đau của nạn nhân, như ở mục trích dẫn “Những nỗi đau thầm kín” bên trên.
Mimi là một cô gái có cá tính phức tạp, vừa mạnh mẽ trong lý trí vừa yếu đuối trong tình cảm. Cô rời khỏi nhà, sống lang thang lưu lạc từ năm mười bảy tuổi. Tình cờ, một đạo diễn nhận ra tố chất nghệ sĩ của cô, và bồi đắp cô thành một nữ diễn viên tên tuổi. Cô thành công trong sự nghiệp, dù dửng dưng với chính sự nghiệp đó. Một ngày tình yêu đến, rồi nó lại ra đi.
Kết thúc dành cho Mimi là cái chết - một kết thúc rất buồn - nhưng có lẽ đối với cô, đó là sự giải thoát, là ân sủng cuối cùng của cuộc đời dành cho cô, một hồng nhan bạc mệnh.
“TÔI”
“Tôi” là một cô gái khác thường. “Tôi” trong Đung đưa giữa những đám mây như một con lắc cứ chao động giữa đôi bờ hư-thực.
Một bé gái mới 12 tuổi nhưng chỉ mê đọc những tác phẩm kinh điển. Rất say mê nhân vật Lâm Đại ngọc trong tiểu thuyết Hồng Lâu mộng của Tào Tuyết Cần. Nhất quyết sẽ trở thành một nhà văn. Yêu một cô gái lớn tuổi hơn (Mimi).
Gia đình em là một gia đình tan vỡ từ lâu, chỉ còn hình thức. Mẹ em ngoại tình với một người đàn ông, ba em thường xuyên đi vắng. Và nếu căn nhà có cả cha lẫn mẹ, nó biến thành một bãi chiến trường. Những ẩn ức, buồn phiền, sợ hãi và cảm giác không thể hiểu, cảm giác bất lực, cảm giác chán ghét ấy, có lẽ đã biến em thành một cô bé kỳ lạ. Em bắt đầu chạy trốn thực tại, tìm nơi ẩn náu trong những trang sách, trong những giấc mơ.
Em từng bị xâm hại tình dục. Ký ức về sự cố đó là một vết thương, không rõ rệt, nhưng mãi mãi là một vết thương không kín miệng. Có phải chính vì thế mà trong em đã hình thành một tình yêu lệch lạc, nghĩa là yêu một người cùng giới tính?
Trong sinh hoạt bình thường, em luôn có cảm giác một kẻ xa lạ, một kẻ ngoài lề, lạc lối.
Còn có rất nhiều điều về “Tôi”. Em đã trưởng thành ra sao? Em có thoát khỏi cơn mê tăm tối, rối rắm đầy hoảng loạn đó, và chỉ còn những giấc mơ đẹp đẽ? Trích dẫn là một khả năng vô cùng hạn chế, vì vậy, rất mong bạn đọc tìm thấy thêm nhiều yếu tố về nhân vật này ngay trong tác phẩm.
Nhiều nhân vật khác cũng rất đáng chú ý, như Sói, Hổ, Chi, ba mẹ của “Tôi”. Tất cả tập hợp, xoay quanh hai nhân vật chính của chúng ta, đại diện và hình thành nên một phần tử trong xã hội lớn Việt Nam.
*
Nguyễn Hoàng Mai hoàn thành Đung đưa trên những đám mây năm 21 tuổi, khi còn là sinh viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh. Đây là bước đầu tiên trên con đường văn học cam go gian khổ, có thể sau tác phẩm này Nguyễn Hoàng Mai không viết được gì hay hơn nữa; cũng có thể đây là cột mốc để từ đó cô vươn lên những tầm cao mới.
N.T.N
(TCSH353/07-2018)
Tải mã QRCode
Vào lúc 14 giờ 25 phút ngày 13 tháng 7 năm 2011 (nhằm ngày 13 tháng 6 năm Tân Mão), nhà thơ Văn Hữu Tứ, hội viên Hội Nhà văn TT. Huế đã qua đời sau một thời gian lâm trọng bệnh. Từ đây, trong mái nhà anh gần hồ Tịnh Tâm, trên các con đường của Thành phố Huế cũng như những nơi anh thường lui tới, tác giả của các tập thơ “Bên dòng thời gian”, “Tôi yêu cuộc đời đến chết” vĩnh viễn vắng mặt.
LÊ HUỲNH LÂM (Đọc tập thơ “Năm mặt đặt tên”, Nxb Thuận Hóa, tháng 5-2011)
KHÁNH PHƯƠNG Nguyễn Đặng Mừng đến với nghề viết một cách tự nhiên, mà cũng thầm lặng như cách người ta theo đuổi một lý tưởng. Ông vốn là học trò lớp ban C (ban văn chương) những khóa gần cuối cùng của trường Trung học Nguyễn Hoàng, trường công lập duy nhất và cũng danh tiếng nhất tỉnh Quảng Trị trước 1975.
…Thuộc dòng dõi Do Thái Đông Âu, Frederick Feirstein sinh ngày 2 tháng Giêng năm 1940 tại New York City, thân phụ và thân mẫu ông có tên là Arnold và Nettie Feirstein…
L.T.S: Nhà thơ Xuân Hoàng sinh năm 1925 tại Đồng Hới, Bình Trị Thiên. Hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Nguyên là quyền Chủ tịch Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, thuở nhỏ ông học ở Huế rồi dạy học ở Đồng Hới một thời gian trước khi thoát ly tham gia cách mạng.
Anh không thấy thời gian trôi thời gian ở trong máu, không lời ẩn mình trong khóe mắt làn môi trong dáng em đi nghiêng nghiêng như đang viết lên mặt đất thành lời về kiếp người ngắn ngủi.(T.Đ.D)
HOÀNG THỤY ANH Phan Ngọc đã từng nói: Thơ vốn dĩ có cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải xúc cảm và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này.
TRẦN THIỆN KHANH (Nhân đọc Phim đôi - tình tự chậm, Nxb. Thanh niên 2010)
LGT: Tuệ Nguyên, một nhà thơ trẻ dám dấn thân để lục tìm chất men sáng tạo ở những vùng đất mới với khát vọng cứu rỗi sự nhàm chán trong thi ca. Trong chuyến xuyên Việt, anh đã ghé thăm tạp chí Sông Hương. Phóng viên Lê Minh Phong đã có cuộc trò chuyện với nhà thơ trẻ này.
KHÁNH PHƯƠNG Lê Vĩnh Tài tự chẩn căn bệnh của thơ tình Việt Nam là “sến”, nghĩa là đa sầu đa cảm và khuôn sáo, bị bó buộc trong những lối biểu hiện nhất định. Rất nhanh chóng, anh đưa được lối cảm thức đương đại vào thơ tình, cái ngẫu nhiên, vu vơ, ít dằn vặt và không lộ ra chủ ý, dòng cảm xúc ẩn kín sau những sự vật tình cờ và cả những suy lý.
HỒ THIÊN LONGBạn đọc TCSH thường thấy xuất hiện trên tạp chí, và một số báo văn nghệ khác một số tên tuổi như về văn xuôi có: Lê Công Doanh, Phùng Tấn Đông, Châu Toàn Hiền, Nguyễn Minh Vũ, Trần Thị Huyền Trang, Phạm Phú Phong, Trần Thùy Mai…
FAN ANH 1. Sự đồng hành của “ba thế hệ viết trẻ”
HOÀNG THÁI SƠN (Về nhà thơ trẻ Xích Bích)
NHỤY NGUYÊN
Đọc bài thơ, thương hốc mắt sâu thẳm của người mẹ chờ con lạc lối, bơ vơ ngay trên ngọn sóng quê nhà.
Kỷ niệm 100 năm ngày bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước & Ngày báo chí cách mạng Việt NamPHẠM PHÚ PHONG - HỒ DŨNGHơn ai hết, trong buổi bình minh của cách mạng nước ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người ý thức rất đầy đủ về sức mạnh của báo chí và dư luận xã hội trong đấu tranh cách mạng. Nó không chỉ là phương tiện giao lưu tư tưởng, mở đường cho văn hóa phát triển mà còn là vũ khí, là công cụ đấu tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc trên mặt trận tư tưởng.
ĐÔNG HÀHuế không phải là đất ở để thương mà chỉ là đất đi để nhớ. Nhiều thế hệ học sinh sinh viên đã đến, ở lại nơi này và rồi sau đó lại khăn gói ra đi. Nhưng đi không đành, nên thường để lại bằng những nỗi lòng trải dài theo khói sương bãng lãng của đất trời cố đô. Thành thử có một thời, Huế nên thơ trong mỗi áng văn chương của những người trẻ tuổi là vì vậy.
Mới đó mà đã gần ba mươi năm trôi qua, kể từ khi những văn nghệ sỹ trẻ xứ Huế cùng hội ngộ với nhau trong Câu lạc bộ Văn học Trẻ Huế những năm tám mươi thế kỷ hai mươi.
LTS: Nhà văn, nhà thơ Thanh Tịnh là người con của xứ Huế, ông sinh ra, trưởng thành và định hình như là một nhà văn ở đây.
PHẠM THƯỜNG KHANH - TRẦN XUÂN TUYẾT Trong số những di sản mà Hồ Chí Minh dành cho ngành Công an thì bức thư của Người gửi đồng chí Hoàng Mai - Giám đốc Công an Khu 12, ngày 11 tháng 3 năm 1948 - nói về Tư cách người Công an Cách mệnh là một di sản quý báu.
NGÔ MINH Nhà xuất bản Tri thức vừa ấn hành cuốn sách quý: “Đất nước Việt Nam qua Cửu Đỉnh Huế” của nhà văn Dương Phước Thu. Sách: biên khảo, lý giải rất chi tiết, rất sâu và cảm động từng chữ, từng hình ảnh khắc trên Cửu Đỉnh.