TRẦN THỊ NHƯ NGỌC
Viên Chiếu thiền sư không những là bậc chân tu, còn có tài văn chương xuất chúng. Tất cả những tác phẩm ngài trước tác và để lại cho đến nay chỉ còn Tham đồ hiển quyết, đó là kết tinh từ những hương thơm cỏ lạ, khoe sắc giữa vườn văn học thiền tông Việt Nam.
Ảnh: tư liệu
Theo Thiền uyển tập anh, thiền sư Viên Chiếu (999 - 1091), chùa Cát Tường, kinh đô Thăng Long. Sư họ Mai, tên Trực, người Long Đàm, Phúc Đường. Là con người anh bà Thái hậu Linh Cảm nhà Lý. Từ nhỏ đã thông minh hiếu học. Sư xuất gia và thọ giáo với thiền sư Định Hương núi Ba Tiêu. Sư rất tinh thông pháp Tam quán trong kinh Viên Giác, thâm đắc ngôn ngữ tam muội, thuyết giảng lưu loát, người đến học rất đông1. Như vậy, thiền sư Viên Chiếu không những là vị cao tăng đắc đạo của nhà Lý mà còn là tác gia văn học nổi tiếng. Những tác phẩm của sư gồm có Dược Sư thập nhị nguyện văn, Tán Viên Giác kinh, Thập nhị Bồ Tát hạnh tu chứng đạo tràng và Tham đồ hiển quyết. Trong đó Tham đồ hiển quyết là tác phẩm duy nhất còn bảo tồn cho đến ngày nay, được viết theo thể thoại đầu thiền ngữ. Nội dung rất phong phú liên quan đến các vấn đề tu hành của người học đạo giải thoát giác ngộ, trong đó “kiến tánh thành Phật” dưới tài năng văn chương sâu sắc, thiền sư lý giải bằng hình ảnh đậm chất thi ca nhưng vô cùng thâm thúy.
Tông chỉ của thiền tông là “trực chỉ chân tâm, kiến tánh thành Phật”, như vậy mục đích của thiền tông là kiến tánh. Kiến tánh là điều kiện cần thiết để thành Phật. Đây là một đường tu tập với tâm lực cực mạnh, rất ít người có đủ căn cơ để chỉ thẳng vào tâm thật của mình, thấy được bản tánh tinh tuyền của mình để thành Phật. Vấn đề kiến tánh được người học trò tham vấn thiền sư Viên Chiếu như sau. Vị tăng hỏi: “Thấy được bản tính thì thành Phật, ý nghĩa câu đó như thế nào?”. Sư đáp:
枯木逢春花竟发。
风吹千里馥神香。
“Khô mộc phùng xuân hoa cạnh phát
Phong xuy thiên lý phức thần hương”.
(Hoa rợp cành khô lúc tiết xuân
Gió đưa nghìn dặm nức hương thần)2
.jpg)
Người học trò hỏi về ý nghĩa của kiến tánh thành Phật nhưng thiền sư lại trả lời bằng hai câu thơ giàu hình ảnh sinh động tuyệt mỹ. Nếu chỉ lãnh hội bằng tư duy thông thường sẽ thấy câu trả lời không ăn nhập với câu hỏi, và không hiểu được ý nghĩa sâu sắc mà thiền sư muốn truyền tải. Vì thế cho nên “Đọc thơ thiền không phải chỉ đọc những gì ở ý nghĩa của ngôn ngữ thông thường mà là lĩnh hội trực tiếp thông điệp bằng cách lấy tâm hội tâm, không thông qua tư duy logic lý tính. Chỉ có như vậy mới có thể đọc được cách nói nghịch lý khác thường, phi logic, không thể thấy được trong cuộc sống”3.
Ở đây, thiền sư dùng hình ảnh nghịch lý thiên nhiên, cành khô nở hoa khi gặp tiết xuân, theo lẽ thông thường tự nhiên cành khô thì dù thời tiết nào cũng không thể trổ hoa. Đó là hiện tượng trái quy luật tự nhiên nhằm gây sự tò mò tột độ, chất xúc tác cực mạnh kích thích sự tư duy “giống như luồng nội lực đả thông kinh mạch, khai nguồn cho dòng thác trí tuệ vụt lên”4.
Cành khô dụ cho người mê, bị phiền não chi phối, vô minh vọng tưởng khởi lên chưa nhận ra đâu là tánh chân thật sáng suốt, đâu là Phật tính ẩn bên trong con người của mình. Một cành khô khi gặp thời tiết thuận lợi của mùa xuân, cũng có thể đâm chồi nảy lộc dâng tặng cho đời muôn vàn nụ hoa đủ màu sắc. Thế thì sâu tận bên trong cành khô đó vẫn còn có mầm sống le lói, chính vì vậy khi hội tụ đủ nhân duyên mầm sống phát triển hiện hữu trên cõi đời. Như vậy, dù là kẻ mê, kẻ đang bị ràng buộc bởi vô minh phiền não thì bên trong mỗi con người ấy vẫn tồn tại Phật tánh thanh tịnh, điều quan trọng là chúng ta có tự mình nổ lực tu tập để nhận ra tánh giác nơi chính mình. Tánh giác này hiện diện trong mỗi chúng ta dù cho có nhận ra được hay không.
Người học trò vẫn chưa lĩnh hội được nên thiền sư mượn hình ảnh cây cà xanh tốt rợp trời mây để kiến giải về kiến tính thành Phật.
万年茄子树。
苍翠耸云端。
“Vạn niên già tử thụ
Thương thúy tủng vân đoan”.
(Cây cà vạn năm nay
Xanh tốt rợp trời mây)5
Cây cà là hình ảnh rất gần gũi với người dân, trồng nhiều trong vườn nên chúng ta thấy nó rất bình thường. Một cây cà rất đỗi bình thường xanh tốt rợp đến tận trời mây cần phải trải qua vạn năm, cũng vậy con đường thấy được tánh sáng suốt tròn đầy có những thử thách diệu dụng phi thường. Chúng ta khi nhận biết được tánh sáng suốt hiện diện thì khi đó muôn vàn hạt giống thiện lành cùng phát triển như cây cà xanh tốt đến tận mây xanh. Như vậy, Phật tánh vốn tiềm ẩn trong chúng sanh, như cây khô khi gặp điều kiện thuận lợi thì mới đâm chồi nở hoa hương thơm ngàn dặm. Hay như cây cà vốn thấp, nếu hội đủ điều kiện thì cũng có thể phát triển xanh tốt tận mây xanh.
Người học trò lại hỏi: “Ma Ni cùng mọi sắc màu, khác nhau không khác, gần nhau chẳng gần”. Sư đáp:
春花与蝴蝶。
几恋几相违。
Xuân hoa dữ hồ điệp
Cơ luyến cơ tương vi”.
(Hãy xem bướm dỡn hoa xuân
Mấy phần quyến luyến mấy phần lìa xa?)6
Ma ni là viên ngọc quý giá trong suốt, không có màu sắc, sở dĩ ma ni có màu sắc là do các vật phản chiếu vào mà ma ni mang màu sắc của vật đó. Mượn tính chất này của ngọc ma ni, người học trò muốn nói đến Phật tánh sáng suốt, tịch tĩnh bên trong của mỗi người khi tiếp xúc với vô vàn cám dỗ của trần tục, Phật tánh ấy có bị ô nhiễm hay không? Viên Chiếu trả lời qua hình ảnh tuyệt mỹ của mùa xuân, có hoa có bướm bay lượn, cho người đọc cảm nhận một bức tranh thật sống động của cuộc sống xung quanh. Càng đọc ta càng cảm nhận như thiền sư dẫn dắt người đọc nhởn nhơ trong khu vườn đầy thơ mộng, có bướm có hoa, có tất cả hình ảnh đẹp nhất của trần gian.
![]() |
Ở đây, chúng ta thấy được mối liên hệ giữa hoa xuân và bướm. Hoa nhờ có bướm mới thêm sinh động, bướm lại hút nhụy hoa, đây được xem là mối quan hệ hỗ trợ qua lại với nhau. Ngọc ma ni vốn không màu ví như tâm thể thanh tịnh trong sáng của mỗi chúng sanh, khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, duyên theo cảnh trần vì thế mới hội đủ màu sắc. Bằng con mắt trần tục của chúng ta quan sát, thấy muôn màu muôn vẻ nhưng bản chất bên trong là thuần khiết không màu. Mọi sự vật hiện tượng trên vũ trụ này, đều được nhìn dưới con mắt duyên sinh vô ngã. Đến hoặc đi đều do nhân duyên, như bướm đến bay lượn bên hoa cỏ mùa xuân, hút nhụy xong rồi lại bay đi. Mỗi hành giả thấy tánh sáng suốt tịch tĩnh ấy, tùy theo nhân duyên mà biểu hiện khác nhau, có lúc gắn bó lúc rời xa.
Đến đây người học trò có vẻ chưa hiểu hết lời thiền sư, lại nêu thắc mắc: “Thế nào là theo người khác mà hỗn tạp?”. Sư đáp bằng câu thơ:
不是胡僧眼。
徒劳逞辩珠。
“Bất thị Hồ tăng nhãn
Đồ lao sính biện châu”.
(Không phải mắt nhà sư Tây Trúc
Hoài công phân biệt ngọc mà thôi)7
Có lẽ dưới con mắt của người chưa ngộ đạo, chưa nhìn thấy bản tánh thanh tịnh bên trong con người chính mình nên mới có cái nhìn hỗn tạp. Ma ni vốn trong suốt không màu nhưng lại phản ánh đủ loại màu sắc bên ngoài, chẳng phải trở thành hỗn tạp đủ sắc màu hay sao? Như vậy thì đâu phải kiến tánh thanh tịnh nữa? Viên Chiếu dạy rằng, nếu không phải là các nhà sư Tây Trúc thì không thể phân biệt được đâu là ngọc quý. Hồ Tăng ở đây “có lẽ nhằm chỉ các vị sư người Tây vực đã đến nước ta, như Cưu Ma La Thập, Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Bồ Đề Đạt Ma v.v… Khi Đạt Ma đến Trung Quốc, người Trung Hoa cũng gọi ông là Hồ tử. Tây Trúc hay Thiên Trúc là tên gọi nước Ấn Độ thời cổ, là nơi phát tích của Phật”8. Như vậy, nhà sư Tây Trúc theo thiền sư Viên Chiếu là những bậc đã giác ngộ.
Theo ý của thiền sư, nếu không phải con mắt của chư Tổ ngộ đạo thì không thể nhận ra hạt châu quý. Tức là thấy bản tánh sáng suốt của tâm. Đối với người chưa ngộ đạo, chưa am hiểu Phật pháp thì việc phân biệt Phật tánh thanh tịnh hay hỗn tạp chỉ uổng công vô ích mà thôi. Cái thấy của người phàm phu còn lăng xăng trong những vọng kiến, rong ruổi chạy theo cảnh trần quên ngày tháng trôi qua rất nhanh. Không thấy sự vô thường sanh diệt trong từng sát na, lấy sự muôn màu của cuộc sống cho là thật nên không nhận ra ngay trong con người huyễn hóa này, tồn tại bản tánh thanh tịnh chân như đang hiện hữu. Người mê thì không nhìn thấy hạt ngọc trong suốt ở nơi mình, điều này khác với người đã giác ngộ được tự tánh thanh tịnh hằng hữu, thanh tịnh không xen tạp bất cứ một màu sắc nào.
Câu chuyện tiếp tục với câu hỏi của người học trò: “Thế nào là mọi người mình gặp đều là Bồ đề?”. Thiền sư Viên Chiếu trả lời:
几惊曲木鸟。
頻吹冷虀人。
“Kỷ kinh khúc mộc điểu
Tần xuy lãnh tê nhân”.
(Từng phen chim sợ cây cong
Từng phen rau nguội ra công thổi hoài)9
Câu hỏi người học trò tương tự trong Cảnh Đức truyền đăng lục: “Tăng hỏi: Thế nào đâu đâu cũng là Bồ Đề? Sư nói: Xà-lê mất đi nữa năm lương”10. Thiền sư dùng hai tích chuyện về chim sợ cây cong và thổi rau nguội để trả lời cho người học trò. Câu chuyện chim sợ cây cong xuất phát từ “câu thành ngữ (Thương cung chi điểu, kiến khúc mộc chi cao phi), nghĩa là chim đã bị cung bắn hễ thấy cây cong thì bay cao”11. Câu chuyện thổi rau nguội do câu thành ngữ (Trừng canh xuy tê); nghĩa là sợ canh thổi dưa. Người ăn canh nóng bị bỏng nên sau thấy dưa nguội cũng thổi”12.
Ngài dùng hai câu chuyện trên để nói lên ý nghĩa của việc thấy mọi người đều là bồ đề, phải chăng đây là cái nhìn của người giác. Người giác thì nhìn đâu cũng là bồ đề thanh tịnh, như chim đã bị bắn thấy cây cong cũng tưởng là cung, như người ăn canh nóng thấy rau nguội cũng thổi. Lời dạy của thiền sư, người học trò vẫn chưa rõ nên xin thầy chỉ giáo lại, Ngài đáp:
聋人听琴响。
盲者望蟾蜍。
“Củng nhân thính cầm hưởng
Manh giả vọng thiềm trừ”.
(Kẻ điếc nghe đàn cầm
Anh mù ngắm trăng rằm)13
Ngôn ngữ của thiền thoại đầu thật sự gây khó hiểu cho người sơ cơ, để hiểu trọn vẹn hết ý nghĩa khó như mò kim đáy bể, người học trò chưa thể hội cũng là điều dễ hiểu.
Có thể thấy, lối dùng nghịch ngữ phi logic xuyên suốt toàn bộ tác phẩm như hai hình ảnh kẻ điếc nghe đàn cầm và anh mù ngắm trăng. Theo lẽ thường người điếc không thể nghe và người mù không thể ngắm trăng. Cũng có thể xem đây như lời quở trách của thiền sư đối với người học trò đang tham vấn. Bằng tất cả tâm huyết, thiền sư khai mở tâm trí cho người học trò thấy được bản thể, bản tánh chân thật bên trong con người chính mình mà vẫn chưa thể lãnh hội được ý chỉ của thiền sư, chẳng khác nào như người điếc và anh người mù kia.
Cuộc sống hiện thực đang phải đối mặt với rất nhiều nỗi khổ niềm đau, chúng ta tìm lối thoát hay tự trói buộc mình trong vòng luẩn quẩn luân hồi sanh tử đều do chúng ta quyết định. Có quá nhiều con đường dẫn đến bờ vực khổ đau nhưng con đường đi đến bến bờ giải thoát niết bàn chỉ có một, đó chính là trở về với con đường kiến tánh thanh tịnh chính mình. Lục Tổ đã ngộ rằng: “Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh, đâu ngờ tự tánh vốn chẳng sanh diệt, đâu ngờ tánh mình xưa nay vốn tự đầy đủ”14. Như vậy, tất cả chúng sanh đều có hạt giống Phật, nhưng để làm cho hạt giống ấy hiển lộ và tăng trưởng kết thành quả Phật là một quá trình tu tập thực hành thiền định. Tu hành theo đúng tinh thần của thiền tông, con đường kiến tánh chắc chắn đưa hành giả đi đến giác ngộ và giải thoát ngay trong đời sống trần tục này.
T.T.N.N
(SHSDB40/03-2021)
----------------
1. Ngô Đức Thọ - Nguyễn Thúy Nga (dịch và chú giải) (2014), Thiền uyển tập anh, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội, tr 48.
2. Viện Văn học (1977), Thơ Văn Lý - Trần, tập 1, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr 285.
3. Thích Hạnh Tuệ (2019), Văn học Phật giáo Việt Nam một hướng tiếp cận, Nxb. Khoa học Xã hội, tr 40.
4. Thích Hạnh Tuệ (2019), Văn học Phật giáo Việt Nam một hướng tiếp cận, Nxb. Khoa học Xã hội, tr 39.
5. Viện Văn học (1977), Thơ Văn Lý - Trần, tập 1, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr 285.
6. Viện Văn học (1977), Thơ Văn Lý - Trần, tập 1, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr 286.
7. Viện Văn học (1977), Thơ Văn Lý - Trần, tập 1, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr 286.
8. Viện Văn học (1977), Thơ Văn Lý - Trần, tập 1, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr 292.
9. Viện Văn học (1977), Thơ Văn Lý - Trần, tập 1, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr 286.
10. Đạo Nguyên Tổ Sư soạn, Lý Việt Dũng (dịch) (2013), Cảnh Đức truyền đăng lục, tập 2, Nxb. Hồng Đức, tr 779.
11. Viện Văn học (1977), Thơ Văn Lý - Trần, tập 1, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr 292.
12. Viện Văn học (1977), Thơ Văn Lý - Trần, tập 1, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr 292.
13. Viện Văn học (1977), Thơ Văn Lý - Trần, tập 1, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr 286.
14. Thích Duy Lực (lược giảng) (1992), Kinh Pháp Bảo Đàn, Từ Ân Thiền Đường ấn hành, Santa Ana, tr 9.
Tài liệu tham khảo:
1. Ngô Đức Thọ - Nguyễn Thúy Nga (dịch và chú giải) (2014), Thiền uyển tập anh, Nxb. Hồng Đức, Hà Nội.
2. Viện Văn học (1977), Thơ Văn Lý - Trần, tập 1, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.
3. Thích Hạnh Tuệ (2019), Văn học Phật giáo Việt Nam một hướng tiếp cận, Nxb. Khoa học Xã hội.
4. Đạo Nguyên Tổ Sư soạn, Lý Việt Dũng (dịch) (2013), Cảnh Đức truyền đăng lục, tập 2, Nxb. Hồng Đức.
5. Thích Duy Lực (lược giảng) (1992), Kinh Pháp Bảo Đàn, Từ Ân Thiền Đường ấn hành, Santa Ana.
.jpg)
Tải mã QRCode
PHONG LÊBây giờ, sau 60 năm - với bao là biến động, phát triển theo gia tốc lớn của lịch sử trong thế kỷ XX - từ một nước còn bị nô lệ, rên xiết dưới hai tầng xiềng xích Pháp-Nhật đã vùng dậy làm một cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại, rồi tiến hành hai cuộc kháng chiến trong suốt 30 năm, đi tới thống nhất và phát triển đất nước theo định hướng mới của chủ nghĩa xã hội, và đang triển khai một cuộc hội nhập lớn với nhân loại; - bây giờ, sau bao biến thiên ấy mà nhìn lại Đề cương về văn hoá Việt Nam năm 1943(1), quả không khó khăn, thậm chí là dễ thấy những mặt bất cập của Đề cương... trong nhìn nhận và đánh giá lịch sử dân tộc và văn hoá dân tộc, từ quá khứ đến hiện tại (ở thời điểm 1943); và nhìn rộng ra thế giới, trong cục diện sự phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại; và gắn với nó, văn hoá, văn chương - học thuật cũng đang chuyển sang giai đoạn Hiện đại và Hậu hiện đại...
TƯƠNG LAITrung thực là phẩm chất hàng đầu của một người dám tự nhận mình là nhà khoa học. Mà thật ra, đâu chỉ nhà khoa học mới cần đến phẩm chất ấy, nhà chính trị, nhà kinh tế, nhà văn hoá... và bất cứ là "nhà" gì đi chăng nữa, trước hết phải là một con người biết tự trọng để không làm những việc khuất tất, không nói dối để cho mình phải hổ thẹn với chính mình. Đấy là trường hợp được vận dụng cho những người chưa bị đứt "dây thần kinh xấu hổ", chứ khi đã đứt mất cái đó rồi, thì sự cắn rứt lương tâm cũng không còn, lấy đâu ra sự tự phản tỉnh để mà còn biết xấu hổ. Mà trò đời, "đã trót thì phải trét", đã nói dối thì rồi cứ phải nói dối quanh, vì "dại rồi còn biết khôn làm sao đây".
MÃ GIANG LÂNVăn học tồn tại được nhiều khi phụ thuộc vào độc giả. Độc giả tiếp nhận tác phẩm như thế nào? Tiếp nhận và truyền đạt cho người khác. Có khi tiếp nhận rồi nhưng lại rất khó truyền đạt. Trường hợp này thường diễn ra với tác phẩm thơ. Thực ra tiếp nhận là một quá trình. Mỗi lần đọc là một lần tiếp nhận, phát hiện.
HÀ VĂN LƯỠNGTrong dòng chảy của văn học Nga thế kỷ XX, bộ phận văn học Nga ở hải ngoại chiếm một vị trí nhất định, tạo nên sự thống nhất, đa dạng của thế kỷ văn học này (bao gồm các mảng: văn học đầu thế kỷ, văn học thời kỳ Xô Viết, văn học Nga ở hải ngoại và văn học Nga hậu Xô Viết). Nhưng việc nhận chân những giá trị của mảng văn học này với tư cách là một bộ phận của văn học Nga thế kỷ XX thì dường như diễn ra quá chậm (mãi đến những thập niên 70, 80 trở đi của thế kỷ XX) và phức tạp, thậm chí có ý kiến đối lập nhau.
TRẦN THANH MẠILTS: Nhà văn Trần Thanh Mại (1908-1965) là người con xứ Huế. Tên ông đã được đặt cho một con đường ở đây và một con đường ở thành phố Hồ Chí Minh. Trần Thanh Mại toàn tập (ba tập) cũng đã được Nhà xuất bản Văn học phát hành năm 2004.Vừa rồi, nhà văn Hồng Diệu, trong dịp vào thành phố Hồ Chí Minh dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Trần Thanh Mại, đã tìm thấy trang di cảo lưu tại gia đình. Bài nghiên cứu dưới đây, do chính nhà văn Trần Thanh Mại viết tay, có nhiều chỗ cắt dán, thêm bớt, hoặc mờ. Nhà văn Hồng Diệu đã khôi phục lại bài viết, và gửi cho Sông Hương. Chúng tôi xin cám ơn nhà văn Hồng Diệu và trân trọng giới thiệu bài này cùng bạn đọc.S.H
TRẦN HUYỀN SÂMLý luận văn học và phê bình văn học là những khái niệm đã được xác định. Đó là hai thuật ngữ chỉ hai phân môn trong Khoa nghiên cứu văn học. Mỗi khi khái niệm đã được xác định, tức là chúng đã có đặc trưng riêng, phạm trù riêng. Và vì thế, mục đích và ý nghĩa của nó cũng rất riêng.
TRẦN THÁI HỌCCó lẽ chưa bao giờ các vấn đề cơ bản của lý luận văn nghệ lại được đưa lên diễn đàn một cách công khai và dân chủ như khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Vấn đề tuyên truyền trong nghệ thuật tuy chưa nêu thành một mục riêng để thảo luận, nhưng ở nhiều bài viết và hội nghị, chúng ta thấy vẫn thường được nhắc tới.
NGUYỄN TRỌNG TẠO...Một câu ngạn ngữ Pháp nói rằng: “Khen đúng là bạn, chê đúng là thầy”. Câu ngạn ngữ này đúng trong mọi trường hợp, và riêng với văn học, Hoài Thanh còn vận thêm rằng: “Khen đúng là bạn của nhà văn, chê đúng là thầy của nhà văn”...
BẢO CHI (lược thuật)Từ chiều 13 đến chiều 15-8-2003, Hội nghị Lý luận – Phê bình văn học (LL-PBVH) toàn quốc do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức đã diễn ra tại khu nghỉ mát Tam Đảo có độ cao 1.000 mét và nhiệt độ lý tưởng 23oc. Đây là hội nghị nhìn lại công tác LL-PBVH 28 năm qua kể từ ngày đất nước thống nhất và sau 54 năm Hội nghị tranh luận Văn nghệ tại Việt Bắc (1949). Gần 200 nhà LL-PB, nhà văn, nhà thơ, nhà báo và khách mời họp mặt ở đây đã làm nóng lên chút đỉnh không khí ôn hoà của xứ lạnh triền miên...
ĐỖ LAI THÚY Văn là người (Buffon)Cuốn sách thứ hai của phê bình văn học Việt Nam, sau Phê bình và cảo luận (1933) của Thiếu Sơn, thuộc về Trần Thanh Mại (1911 - 1965): Trông dòng sông Vị (1936). Và, mặc dù đứng thứ hai, nhưng cuốn sách lại mở đầu cho một phương pháp phê bình văn học mới: phê bình tiểu sử học.
ĐẶNG TIẾNThuật ngữ Thi Học dùng ở đây để biểu đạt những kiến thức, suy nghĩ về Thơ, qua nhiều dạng thức và trong quá trình của nó. Chữ Pháp là Poétique, hiểu theo nghĩa hẹp và cổ điển, áp dụng chủ yếu vào văn vần. Dùng theo nghĩa rộng và hiện đại, theo quan điểm của Valéry, được Jakobson phát triển về sau, từ Poétique được dịch là Thi Pháp, chỉ chức năng thẩm mỹ của ngôn từ, và nới rộng ra những hệ thống ký hiệu khác, là lý thuyết về tính nghệ thuật nói chung. Thi Học, giới hạn trong phạm vi thi ca, là một bộ phận nhỏ của Thi Pháp.
TRẦN CAO SƠNTriều Nguyễn tồn tại gần 150 năm, kể từ khi Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế với niên hiệu Gia Long - năm1802, tạo dựng một đế chế tập quyền trên toàn bộ lãnh thổ mà trước đó chưa hề có. Trải qua một thế kỷ rưỡi tồn tại, vinh hoa và tủi nhục, Triều đại Nguyễn là một thực thể cấu thành trong lịch sử Đại Việt. Những cái do triều đình Nhà Nguyễn mang lại cũng rất có ý nghĩa, đó là chấm dứt cuộc nội chiến, tranh giành quyền lực, xương trắng máu đào liên miên mấy thế kỷ, kiến tạo bộ máy quản lý hành chính trung ương tập quyền thống nhất mà Quang Trung - Nguyễn Huệ đã dày công vun đắp gây dựng trước đó. Dân tộc đã phải trải qua những năm tháng bi hùng với nhiều điều nuối tiếc, đáng bàn đáng nói ngay ở chính hôm nay. Song lịch sử là lịch sử, đó là một hiện thực khách quan.
TRẦN HUYỀN SÂMNếu nghệ thuật là một sự ngạc nhiên thì chính tiểu thuyết Thập giá giữa rừng sâu là sự minh định rõ nhất cho điều này. Tôi bàng hoàng nhận ra rằng, luận thuyết: con người cao quý và có tình hơn động vật đã không hoàn toàn đúng như lâu nay chúng ta vẫn tin tưởng một cách hồn nhiên. Con người có nguy cơ sa xuống hàng thú vật, thậm chí không bằng thú vật, nếu không ý thức được giá trị đích thực của Con Người với cái tên viết hoa của nó. Phải chăng, đây chính là lời nói tối hậu với con người, về con người của tác phẩm này?
HOÀNG NGỌC HIẾN ...Từ những nguồn khác nhau: đạo đức học, mỹ học, triết học xã hội-chính trị, triết học xã hội-văn hoá... cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình văn học là nỗ lực vượt lên trên những thành kiến và định kiến hẹp hòi trong sinh hoạt cũng như trong học thuật. Những thành kiến, định kiến này có khi lại được xem như những điều hiển nhiên. Mà đã là “hiển nhiên” thì khỏi phải bàn. Đây cũng là một thói quen khá phổ biến trong nhân loại. Cảm hứng triết luận trong nghiên cứu, phê bình có khi bắt nguồn từ suy nghĩ về chính những điều “hiển nhiên” như vậy...
THÁI DOÃN HIỂUVào đời, Lưu Quang Vũ bắt đầu làm thơ, viết truyện, rồi dừng lại nơi kịch. Ở thể loại nào, tài năng của Vũ cũng in dấu ấn đậm đà làm cho bạn đọc cả nước đi từ ngạc nhiên đến sửng sốt. Thơ Lưu Quang Vũ một thời được lớp trẻ say sưa chép và thuộc. Kịch Lưu Quang Vũ một thời gần như thống trị sân khấu cả nước.
TRẦN THANH ĐẠMTrong lịch sử nước ta cũng như nhiều nước khác, thời cổ - trung đại cũng như thời cận - hiện đại, mỗi khi một quốc gia, dân tộc bị xâm lược và chinh phục bởi các thế lực bên ngoài thì trong nước bao giờ cũng phát sinh hai lực lượng: một lực lượng tìm cách kháng cự lại nạn ngoại xâm và một lực lượng khác đứng ra hợp tác với kẻ ngoại xâm.
ĐỖ LAI THUÝLTS: Trong số tháng 5-2003, Sông Hương đã dành một số trang để anh em văn nghệ sĩ Huế "tưởng niệm" nhà văn Nguyễn Đình Thi vừa qua đời. Song, đấy chỉ mới là việc nghĩa.Là một cây đại thụ của nền văn nghệ cách mạng Việt Nam, Nguyễn Đình Thi toả bóng trên nhiều lĩnh vực nghệ thuật. Bằng chứng qua các bài viết về ông sau đây, Sông Hương xin trân trọng dành thêm trang để giới thiệu sâu hơn, có hệ thống hơn về Nguyễn Đình Thi cùng bạn đọc.
ĐẶNG TIẾN…Nguyễn Đình Thi quê quán Hà Nội, nhưng sinh tại Luang Prabang, Lào, ngày 20/12/1924. Từ 1931 theo gia đình về nước, học tại Hải Phòng, Hà Nội. Năm 1941 tham gia Thanh Niên cưú quốc, 1943 tham gia Văn hóa cứu quốc, bị Pháp bắt nhiều lần. Năm 1945, tham dự Quốc Dân Đại hội Tân Trào, vào Ủy ban Giải phóng Dân tộc. Năm 1946, là đại biểu Quốc hội trẻ nhất, làm Ủy viên Thường trực Quốc hội, khóa I…
HỒ THẾ HÀ Hai mươi lăm năm thơ Huế (1975 - 2000) là một chặng đường không dài, nhưng nó diễn ra trong một bối cảnh lịch sử - thi ca đầy phức tạp. Cuộc sống hàng ngày đặt ra cho thể loại những yêu cầu mới, mà thơ ca phải làm tròn sứ mệnh cao cả với tư cách là một hoạt động nhận thức nhạy bén nhất. Những khó khăn là chuyện đương nhiên, nhưng cũng phải thấy rằng bí quyết sinh tồn của chính thể loại cũng không chịu bó tay. Hơn nữa, đã đặt ra yêu cầu thì chính cuộc sống cũng đã chuẩn bị những tiền đề để thực hiện. Nếu không, mối quan hệ này bị phá vỡ.
JAMES REEVESGần như điều mà tôi hoặc bất kỳ nhà văn nào khác có thể nói về một bài thơ đều giống nhau khi nêu ra ấn tượng về điều gì đấy được in trên giấy. Tôi muốn nhấn mạnh rằng đây không phải là toàn bộ sự thật. Việc in trên giấy thực ra là một bài thơ gián tiếp. Sẽ dễ dàng thấy điều này nếu chúng ta đang nói về hội hoạ hoặc điêu khắc.