Cho dù đã trải qua nhiều biến động, thăng trầm của lịch sử, đấu trường Hổ quyền vẫn tọa lạc sừng sững, phảng phất chất uy nghi, và là một kiến trúc vô cùng quan trọng trong quần thể di tích đất cố đô Huế.
Cho dù đã trải qua nhiều biến động, thăng trầm của lịch sử, đấu trường Hổ quyền vẫn tọa lạc sừng sững, phảng phất chất uy nghi, và là một kiến trúc vô cùng quan trọng trong quần thể di tích đất cố đô Huế.
“Đấu trường giác đấu La Mã”
Sau các “sự cố” hy hữu trong những trận tử chiến voi – hổ, triều đình nhà Nguyễn đã nghĩ đến phương án xây dựng một trường đấu nằm biệt lập, kiên cố và an toàn hơn. Cũng chính nhờ quyết định “táo bạo” đó mà ở xứ Huế bây giờ vẫn còn tồn tại một đấu trường giác đấu quy mô, hoành tráng “hệt như” đấu trường Coluseum thời La Mã cổ đại (hiện thuộc thôn Trường Đá, làng Nguyệt Biều, phường Thủy Biều, TP. Huế (tỉnh Thừa Thiên – Huế). Để đảm bảo an toàn cho người xem lẫn người bảo vệ cuộc giao đấu, năm Canh Dần (1830), vua Minh Mạng ra chiếu cho xây một đấu trường kiên cố, đặt tên là Hổ quyền. Vua cho khắc rõ một dòng chữ Hán ngay trên đấu trường: “Minh Mạng thập nhất niên/Chính nguyệt cát nhật tạo” (Tức làm vào một ngày tốt lành thuộc tháng Giêng năm thứ 11 đời vua Minh Mạng).
Trường đấu Hổ quyền tọa lạc tại khu vực đồi Long Thọ và thành Lồi, gần với Điện Voi Ré (tên gọi dân gian của Miếu Long Châu). Đây là vùng đất của người Chăm Pa xưa. Theo nhận xét, đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu, vua Minh Mạng xây dựng đấu trường trên mảnh đất một thời là thành quách của người Chiêm Thành vì muốn khẳng định mình là người chiến thắng; mặt khác muốn “dằn mặt” những kẻ có âm mưu chống đối triều đình. Dư địa chí Thừa Thiên-Huế chép: Hổ quyền được cấu trúc khá đơn giản nhưng rất chắc chắn, được xây bằng gạch vồ, đá thanh và vôi vữa; là một đấu trường lộ thiên hình vành khăn. Được kết cấu bởi hai vòng tường thành hình tròn đồng tâm.
Theo các tài liệu ghi chép lại vòng tường trong cao 5,9m, vòng tường ngoài cao 4,75m. Thành ngoài nghiêng một góc khoảng 15 độ tạo đế vững chắc kiểu chân đê. Cả hai vòng tường cộng với dải đất ở giữa tạo thành một bề dày 4m ở đỉnh và 5m ở chân thành, đường kính lòng chảo 44m, chu vi tường ngoài 145m. Khán đài cho vua được thiết kế ở mặt Bắc của đấu trường, tương đối cao và thoáng. Bên phải đấu trường là lối lên xuống của vua cùng hoàng thân quốc thích. Bên trái là lối của các quan chức và binh lính. Đối diện tầm nhìn của vua là năm chuồng nhốt hổ, với hệ thống cửa gỗ đóng mở bằng cách kéo dây từ phía trên. Bên cạnh là một cửa vòm lớn để dẫn voi vào trường đấu.
Hổ quyền được xây dựng kiên cố, chắc chắn nên mỗi lần có trận giao chiến voi – hổ thì dân chúng đua nhau kéo đến xem. Vua quan triều Nguyễn cũng an tâm thân chinh ngự lãm. Theo lời kể của các bậc cao niên, ngày hội Hổ quyền, cả kinh thành tưng bừng. Trên sông Hương, thuyền rồng của vua quan ngược dòng từ Nghinh Lương Đình lên thôn Trường Đá. Đường bộ, dân chúng cũng tấp nập men theo con đường bờ Nam sông Hương tìm lên Thủy Biều.
Trong ngày thi đấu, dân chúng và hương chức quanh vùng đặt hương án, lễ vật trên đoạn đường vua đi. Đấu trường được trang trí bởi nghi trượng, cờ, lọng. Tiếng trống giục liên hồi vang xa cả một vùng. Một đội quân mặc áo đỏ, nón sơn, cầm khí giới nghiêm trang, cung kính đứng hai bên đường từ đấu trường ra đến bến sông để đón vua quan. Đúng Ngọ, vua cập bến Long Thọ; vua lên kiệu, đi trước là Ngự lâm quân, thị vệ cầm cờ, cầm gươm chỉn chu, tiếp theo là đội nhạc cung đình.
Là trường đấu xem voi giết hổ, vì vậy theo thông lệ, trước mỗi trận đấu voi chiến được tạo điều kiện tốt nhất để dành chiến thắng. Tuy nhiên, khi Hổ quyền hoàn thành, các trận đấu sinh tử giữa voi và hổ càng được tạo cơ hội để trở nên... tàn khốc hơn. Hổ lúc này được cho ăn đầy đủ nhằm giữ được nguyên sức khỏe, móng vuốt, răng nanh cũng được giữ nguyên, nhằm tạo ra sự “công bằng” cho trận quyết chiến.
Cái kết của “chiến thần” và “chúa tể rừng xanh”
Theo nhà Huế học Phan Thuận An, dưới triều vua Minh Mạng đã chọn ra một con voi đầu đàn để chỉ huy binh đoàn voi chiến của nhà Nguyễn. Bầy voi chiến tinh nhuệ lại có sự “lãnh đạo” của voi đầu đàn; cộng thêm bầy hổ “khát máu” được chăm sóc kỹ lưỡng đã tạo nên thời vàng son cho Hổ quyền. Theo lời những bậc cao niên ở thôn Trường Đá kể lại, trong những trận quyết chiến voi hổ, các quan võ là những người đặc biệt hào hứng nhất. Bởi khi hổ và voi quyết đấu, chúng sẽ sử dụng những miếng thế thủ và tấn công đối phương của riêng mình. Các quan võ quan sát, nghiên cứu rồi theo từng miếng đánh ấy mà chuyển hóa, cách tân thành những miếng võ lợi hại. Hơn thế nữa là giúp quan võ và binh sỹ rèn luyện tính can trường, dũng cảm, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng.
Trong một lần tuyển chọn voi chỉ huy của đội tượng binh hoàng gia, vua Minh Mạng đã cho bầy voi 12 con giao đấu với ba con hổ. Vừa vào trận, bầy hổ khát máu đã tiến về phía đàn voi giương vuốt sắt rồi chồm lên tấn công tới tấp. Bầy voi nghe sự “chỉ huy” của thủ lĩnh đầu đàn nên nhanh chóng bày trận, xếp thành một vòng tròn, đứng vây hổ vào giữa trận. Thấy bất lợi về ta, ba con hổ đồng loạt nhắm về phía con voi đầu đàn mà nhe răng chực cắn, chực tát. Nhanh như cắt, voi đầu đàn dùng ngà húc thẳng vào bụng chúng. Những voi chiến còn lại cũng xông lên hỗ trợ. Cuộc huyết chiến diễn ra trong “biển máu”. Phòng thủ, giằng co, chống trả suốt một ngày trận chiến mới phân thắng bại. Ba con hổ bị hạ gục hoàn toàn, song đội tượng binh chỉ còn 4 con, voi đầu đàn bị thương nặng.
Nhà Huế học Phan Thuận An cho biết, sau trận quyết chiến, vua Minh Mạng đã quyết định chọn voi đầu đàn làm chỉ huy binh đoàn voi chiến. Sử cũ còn chép lại việc vua Minh Mạng đích thân đến rửa vết thương cho voi sau những trận chiến. Ông dặn dò binh lính phải chăm sóc voi chu đáo, để sau này đánh quân Xiêm La bảo vệ bờ cõi. Trong các đời vua chúa nhà Nguyễn thì vua Minh Mạng là người được ví “yêu voi như con”.
Trong lịch sử, có một trận đấu voi-hổ được người ta nhắc đi nhắc lại nhiều lần và thuật lại rất kỹ. Voi xuất hiện ở cửa vòm, hổ được thả chạy ra từ chuồng nhốt hổ (không hề bị cột dây “bảo hiểm”). Vừa thấy bóng voi, vua ngự trên khán đài khen con voi cái này can đảm. Vua vừa dứt lời, hổ đã nhảy phóc lên trán voi, chực nhe nanh cắn xé. Voi đau hét lên một tiếng xé trời, rồi chạy thật nhanh làm hổ mất thăng bằng rớt xuống. Chưa chịu dừng lại, hổ vẫn tiếp tục bu bám lên trán voi, bấu vào mắt, vào tai. Bị tấn công dồn dập, voi dồn sức mạnh ngàn cân của mình áp sát hổ vào tường và ghì chặt cho đến khi hổ không còn cử động được nữa mới thả xuống. Rồi voi dùng chân đạp chết con mãnh thú. Đó là trận huyết đấu cuối cùng tại Hổ quyền, năm 1904 dưới thời vua Thành Thái.
Sau này, người ta không còn “cơ hội” để xem voi giết hổ bởi vận nước khó khăn. Điều kiện kinh tế, xã hội không cho phép tổ chức các trận đấu như thế nữa. Nhìn một cách khách quan, đấu trường Hổ quyền trong một chừng mực nào đó đã thể hiện được sự tiến bộ trong quá trình nhận thức của các vua chúa lúc bấy giờ. Một quá trình nhận thức mà xét trên góc độ xã hội là ngày một văn minh và nhân đạo hơn. Từ chỗ dùng đồng loại của mình làm “vật bảo vệ” cho một trò tiêu khiển nguy hiểm, dần dần vua chúa đã biết xây dựng nên một đấu trường kiên cố, đảm bảo an toàn tính mạng cho người xem lẫn người bảo vệ trận đấu.
Lớp bụi thời gian đã và đang làm cho đấu trường Hổ quyền oai linh một thời nhuốm màu rêu phong và dần rơi vào quên lãng. Bởi giá trị của nó không phải nằm ở sự chạm khắc tinh xảo hay những hoa văn đậm chất nghệ thuật như các địa danh trong quần thể di tích cố đô Huế. Hổ quyền đơn giản là một bức tường thành để khán giả ung dung "ngự" lên khán đài, nhìn xuống khu lòng chảo mà thưởng thức một trận voi – hổ tranh tài vô cùng ác liệt, hấp dẫn. Không ồn ào, khoa trương nhưng giá trị lịch sử của nó thì không ai chối cãi được. Hổ quyền là một di tích đặc biệt của Việt Nam và của cả thế giới.
Phục dựng đấu trường bằng công nghệ 3D
Ngày 31/5/2010, Tổng cục Di sản văn hóa Hàn Quốc và viện Khoa học công nghệ chất lượng cao Hàn Quốc đã chuyển giao cho Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế sản phẩm phim 3D “phục dựng di tích Hổ quyền bằng công nghệ kỹ thuật số”. Bộ phim đã sử dụng công nghệ 3D để phục dựng lại các hình ảnh của đấu trường Hổ quyền - nơi tranh hùng giữa voi và hổ - được xây dựng dưới thời nhà Nguyễn.
Theo Bạch Hưng (Nguoiduatin)
Tải mã QRCode
Món xôi ống tưởng chừng như đơn giản này lại chứa đựng trong nó tất cả tinh hoa miền núi.
Được Bộ VH-TT (nay là Bộ VH,TT&DL) công nhận là Di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia từ năm 1991, nhưng suốt nhiều năm qua, di tích Tuy Lý Vương nằm ở phường Đúc, TP Huế, bị nhiều hộ dân xâm hại một cách nghiêm trọng. Mặc dù các cơ quan chức năng tỉnh Thừa Thiên - Huế đã vào cuộc, tuy nhiên, do cách xử lý “nửa vời”, thiếu cương quyết nên đến nay, khu di tích này vẫn ở trong tình trạng “kêu cứu” từng ngày...
Ngược lên thượng nguồn sông Hương vào một ngày đầu năm 2014, chúng tôi đến thăm cụ ông Nguyễn Lô (82 tuổi), ở thôn Kim Ngọc, xã Hương Thọ, thị xã Hương Trà, Thừa Thiên - Huế, trong một căn chòi tạm bên cạnh lăng chúa Nguyễn Phúc Thái (Vị chúa thứ 5 của triều Nguyễn). Gần 40 năm qua, ông lão đã một thân một mình chống lại những kẻ đào trộm mộ để bảo vệ lăng chúa Nguyễn được vẹn toàn; đồng thời cũng khai hoang đất đồi phát triển kinh tế gia đình…
Kế Môn (Điền Môn, Phong Điền, TT- Huế) là quê hương của hàng ngàn người giàu có trên cả nước và thế giới. Bởi là quê quán của nhiều người giàu nên Kế Môn sở hữu lắm chuyện đặc biệt.
Năm 2010, tôi được về dự đêm thơ Quê Mẹ của nhà thơ Tố Hữu tổ chức tại TP Huế - quê mẹ của ông và có dịp được về thăm quê ông, một làng nhỏ bên dòng sông Bồ trong xanh. Thật thú vị vì đây cũng chính là quê hương của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - Nguyên ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên Chính ủy Quân giải phóng miền Nam.
Những ngôi nhà vườn, nhà rường cổ ở Huế không chỉ có giá trị về mặt di sản kiến trúc mà còn thể hiện một cách sống động và chân thực nhất về đời sống của người Huế xưa. Nhưng vì nhiều lý do: tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, người dân thiếu tiền trong việc trùng tu bảo tồn …mà giờ đây, những ngôi nhà cổ nguyên bản đặc trưng xứ Huế đang mai một dần.
Ðồng chí Nguyễn Chí Thanh sinh ngày 1-1-1914, tên thật là Nguyễn Vịnh, là một nhà lãnh đạo Ðảng, Nhà nước, Quân đội kiệt xuất; nhà chính trị, quân sự mưu lược, tài trí, dũng cảm, kiên quyết; một người con ưu tú của quê hương Thừa Thiên - Huế. Ðồng chí đã cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Ðảng, của dân tộc.
Từ một địa phương không có bệnh viện tuyến tỉnh, mọi hoạt động trong lĩnh vực y tế chuyên sâu chủ yếu dựa vào Bệnh viện Trung ương Huế là chính nên thường xuyên gây ra vấn đề quá tải. Để khắc phục tình trạng trên, thời gian qua, tỉnh Thừa Thiên Huế đã tập trung nhiều nguồn lực để xây mới 03 bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh. Đến nay, sau thời gian ngắn đi vào hoạt động, các bệnh viện này đã làm rất tốt công tác khám chữa bệnh, thu hút ngày càng nhiều bệnh nhân đến khám và điều trị.
Múa bao giờ cũng gắn kết với âm nhạc (nhạc đàn và nhạc hát), vì thế, người ta thường gọi tên là “Múa hát cung đình”. Múa hát cung đình của vua chúa Việt Nam không giống như hình thức vũ hội phương Tây. Nó chủ yếu phục vụ cho vua chúa, lễ lạc trong triều đình, mang hình thức lễ nghi phong kiến vương triều.
Hội đồng chung khảo Giải thưởng Văn học Nghệ thuật Cố đô lần thứ V đã lựa chọn được 40 tác phẩm, công trình (trong tổng số 45 tác phẩm, công trình do Hội đồng sơ khảo giới thiệu vào xét vòng chung khảo) đề nghị Chủ tịch UBND tỉnh trao giải thưởng A, B, C.
Bác sĩ Trương Thìn sinh năm 1940 tại Thừa Thiên Huế . Từ năm 1961 ông là sinh viên Trường đại học Y khoa Sài Gòn .Ông học giỏi, nhiệt tình tham gia phong trào học sinh, sinh viên yêu nước, là trưởng đoàn văn nghệ sinh viên học sinh Sài Gòn trong phong trào đấu tranh “Hát cho dân tôi nghe” những năm trước giải phóng.
Với người Tà Ôi ở miền rẻo cao A Lưới (tỉnh Thừa Thiên - Huế), từ xa xưa, những chuỗi mã não là biểu tượng của quyền lực, sự giàu có, sang trọng và có địa vị trong cộng đồng.
Chứa đựng trong mình cả một giai đoạn lịch sử thông qua các di tích, nét trầm mặc cổ kính, điệu hát cung đình Huế âm trầm cùng với sông Hương, núi Ngự… Huế vẫn sừng sững nghiêng mình tồn tại với thời gian qua sự thăng trầm của lịch sử, với thời gian và sự chống trọ trong chiến tranh.
Thời thượng, đâu cũng piano, ghi ta thì có một người vẫn ngày đêm lưu giữ và phục chế hàng ngàn cây đàn cổ quý báu của tổ tiên để lại.
Khi chọn Huế làm đất đóng đô, các vua chúa nhà Nguyễn đã quên mất một yếu tố quan trọng và cơ bản của phong thủy.
Tác phẩm “văn sử bất phân” Xứ Đàng Trong - Lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ 17 - 18 (Nguyễn Nghị dịch, NXB Trẻ tái bản lần thứ nhất, quý 3/2013) của Li Tana, đã được trao giải Sách hay 2013..
Ngày 1-1-2014, chúng ta kỷ niệm 100 năm Ngày sinh Ðại tướng Nguyễn Chí Thanh, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư T.Ư Ðảng, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên Bí thư T.Ư Cục miền Nam kiêm Chính ủy Quân giải phóng miền Nam - Người con ưu tú của đất nước và quê hương Thừa Thiên - Huế, nhà lãnh đạo kiệt xuất, kiên trung, mẫu mực của Ðảng; vị tướng đức tài trọn vẹn, trí dũng song toàn của lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam.
Bên tả ngạn của sông Hương, cách thành phố Huế chừng 15 km về hướng tây, có một ngọn đồi người ta quen gọi là “Đồi thiên thần”, nơi nương náu của gần 50.000 thai nhi bị phá bỏ.
Vào một buổi chiều, tình cờ đi quanh làng Dã Lê Thượng, phường Thủy Phương, tôi thấy chú Dương Văn Thọ (56 tuổi) ở tổ 01 (phường Thủy Phương, thị xã Hương Thủy) đang quét dầu cho chiếc ghe mới đan của mình. Trong trí nhớ của mình và những gì mình biết, tôi chợt nhận thấy bóng dáng của một cái nghề mà ngày xưa người làng mình đã làm: nghề làm, đan ghe thuyền.