THƯƠNG HOÀI THƯƠNG HỦY (Tập thơ), Nguyễn Lãm Thắng, Nxb. Đại học Huế, 2020.
Nguyễn Lãm Thắng với năng lượng sáng tạo dồi dào của mình trên chặng đường thơ, phá bỏ các ước lệ, cũng như kiến tạo một tinh thần, một phong cách thơ rất riêng. Tập thơ dày dặn với hơn 300 bài thơ và được chia thành các tiểu mục nhỏ như: Buồn vui chi cũng tím bầm nhớ thương; Thương dân ca, nhớ hò khoan quê mình; Những điều không nói là thường rất đau. Người thơ đã chạm vào mưa mà nhớ, đi đến tận cùng nỗi nhớ, đây vết sẹo câm, kia vết thương dịu dàng và đâu đó đã chết trong lòng một giấc mơ. Nguyễn Lãm Thắng đã cho con chữ tự do bay, nhảy, múa trong các trạng huống đời sống, những cơn mơ, ý nghĩ móc ruột từ đêm, chợt nhận ra rằng trần gian chật quá, để vỗ về một hạt bụi và trả lời giấc mộng của chính mình với bao ngậm mùi bể dâu: “trước sau cát xóa lối về/ ta làm một cái bổn lề nhơn gian”, đã tạc vào nỗi trắc ẩn của một tâm hồn đa cảm: “nát nhàu một lối đi quen/ cỏ xưa đâm rát những đêm hẹn hò”.

HUẾ TÍM VÀO TÔI (Tập thơ), Nguyễn Loan, Nxb. Thuận hóa, 2020.
Một tập thơ chứa đựng nhiều cảm xúc về Huế, nhiều mộng mơ trìu mến và những kỷ niệm êm đềm. Trong dòng cảm xúc đó, Nguyễn Loan đã sáng tác về cô gái Huế, mắt Huế, thu Huế, đêm Huế, nỗi niềm Huế, dân ca Huế, chuyến tàu Huế, Huế tím, Huế tháng Giêng… Những câu thơ để lại ấn tượng trong tập thơ này lại nghiêng về dòng Hương huyền thoại: “Nhặt lá vàng rơi gói ghém nỗi buồn/ Thả vào sông Hương/ Nhờ sông cất giữ”. Sông Hương hiện lên với cơn mưa huyền, nét chấm phá của những chiếc thuyền rồng, vẻ ảo diệu của lớp lớp hoa đăng, chút thơ Hàn Mặc Tử cùng con nước và sông Hương hóa rượu thanh tao trong mắt người thơ. Và vầng trăng muôn đời soi bóng thi ca cũng được lý giải: “Nhờ tắm nước sông Hương mà thành trăng thi sĩ”.

TÌM HIỂU VỀ VÈ NGƯỜI VIỆT (Chuyên luận), Triều Nguyên, Nxb. Đại học Huế, 2020.
Chuyên luận gồm sáu chương; trong đó chương 2: Sự phân loại, tổng thể vè người Việt; 3. Xác định vè người Việt; 4. Hình thức vè người Việt, và 6. Đặc điểm và vai trò của vè người Việt, là những đóng góp lớn về mặt nghiên cứu về thể loại vè hiện nay. Về mặt lịch sử, sự xuất hiện của vè là một bước tiến mới của văn tự sự dân gian, phản ánh hiện thực ở từng địa phương nhất định, bộc lộ rõ thái độ của người dân trước những sự việc, sự kiện tác động đến tâm lý, nhịp sống của người dân qua từng thời kỳ. Đặc biệt, dựa trên các định nghĩa trước đây về vè và quan điểm cá nhân, chuyên luận cũng đã đưa ra định nghĩa mới: “Vè là một thể loại tự sự bằng văn vần của văn học dân gian, dạng “khẩu báo” (báo miệng), kể về các hiện tượng tự nhiên (có tác động lớn đến con người), về con người và xã hội, các đối tượng này đều “có vấn đề”, khiến những người ở địa bàn liên quan muốn biết, để thể hiện sự quan tâm của họ; vè có phong cách tường minh, cụ thể”. Về đặc điểm của vè theo tác giả có những tính chất sau: tính chất kể lể, mộc mạc, không trau chuốt, chất thời sự và địa phương. Tầng lớp dưới trong xã hội được cho là những người người đặt vè, bẻ vè, nói vè chiếm tỷ lệ lớn trong các sáng tác dân gian. Chuyên luận Tìm hiểu về vè người Việt là một đóng góp lớn của nhà nghiên cứu Triều Nguyên với văn học dân gian.

KÝ ỨC CỦA KÝ ỨC (Tiểu thuyết), Nguyễn Vĩnh Nguyên, Phanbook và Nxb. Phụ Nữ, 2019.
Nguyễn Vĩnh Nguyên có nhiều tác phẩm, công trình gắn với xứ sở Đà Lạt sương mù nhiều ký ức, huyền thoại. Tiếp nối các tác phẩm biên khảo, tùy bút như “Với Đà Lạt, ai cũng là lữ khách”, “Đà Lạt một thời hương xa”, “Đà Lạt bên dưới sương mù”, Nguyễn Vĩnh Nguyên một lần nữa tái hiện Đà Lạt trong hình hài mới: tiểu thuyết “Ký ức của ký ức” thể hiện thế giới tinh thần với nhiều lớp trầm tích của quá khứ, ký ức chồng lên nhau và một Đà Lạt tính ẩn giấu dưới nhiều tuyến nhân vật. Tiểu thuyết được cấu trúc theo hình thức truyện đặt trong truyện, dẫn dắt người đọc đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Đó là câu chuyện kể về một nhà biên khảo lịch sử Đà Lạt miệt mài phục dựng quá khứ và kiếm tìm lai lịch một nữ sinh Đà Lạt hồi thập niên 1960 - 1970. Những không gian thực và mơ hòa vào nhau, từng trang viết là từng vệt sương mù phủ lên lung linh, huyền ảo. Kỹ thuật của lối viết hậu hiện đại và liên văn bản được Nguyễn Vĩnh Nguyên áp dụng, phù hợp với tâm thức của nhân vật và nội dung câu chuyện. Qua đó cho thấy, một thế giới quan duy mỹ, tràn đầy hoài niệm về xứ sở nhiều mộng ảo đã được một người yêu mến Đà Lạt, tận lực thực hiện các dự án văn chương để lưu lại vẻ đẹp một thời đang dần vào quên lãng.
(TCSH379/09-2020)
Tải mã QRCode
BI KỊCH (chuyên luận), tác giả Adrian Poole, Nxb. Tri thức, 2012. Adrian Poole là giảng viên môn Ngữ văn Anh và Văn học so sánh tại đại học Cambridge. Là người đam mê nghiên cứu văn học thế kỷ 19 và 20.
BỬU CHỈ, ĐƯỜNG BAY NGHỆ THUẬT VÀ KÝ ỨC TRẦN GIAN, nhiều tác giả, Nxb. Hội Nhà văn 2012.
THƠ 2 (tuyển tập thơ nhiều tác giả), Nxb Hội Nhà văn, 2012.
THƠ NHƯ LÀ MỸ HỌC CỦA CÁI KHÁC (chuyên luận), tác giả Đỗ Lai Thúy, Nxb Hội Nhà văn, 2012. Vẫn lấy Thơ làm trung tâm của mọi diễn giải, nhưng khác với các công trình trước, ở đây, Thơ được tiếp cận từ cái khác (Otherness), như một phạm trù của triết học và mỹ học.
TREO TÌNH TRÊN SÓNG (tiểu thuyết), tác giả Võ Ngọc Lan, Nxb Hội Nhà văn, 2012. Với thi pháp truyền thống, Treo tình trên sóng như là một thiên tự truyện về cuộc đời của một con người. Và từ đây chúng ta nhận thấy thực ra cuộc đời của một con người tự bản thân nó đã là một cuốn tiểu thuyết.
NHỊP ĐIỆU THỜI GIAN (thơ), tác giả Nguyễn Hồng Vinh, Nxb Văn học 2012.
VÀNG SON THẠCH THỦY KHÍ (truyện ngắn), tác giả Võ Thị Xuân Hà. Nxb Hội Nhà văn, 2012. Đọc văn của Võ Thị Xuân Hà chúng ta bắt gặp những nỗi buồn, những nỗi đau của thân phận con người qua cái nhìn đầy tính nhân văn của chị.
NHỮNG CHIẾC THUYỀN VỎ BÒNG, Tác giả Mai Văn Hoan, Nxb Thuận Hóa, 2012. Theo như “lời thưa” của thi sỹ đầu cuốn sách thì ông xem mỗi bài thơ là một chiếc thuyền vỏ bòng thả ¬trên dòng sông cuộc đời. Mai Văn Hoan đã cùng với thơ đi qua những nỗi nhọc nhằn của cuộc sống, đã cùng với thơ cảm nhận những cung bậc khác nhau trong dòng đời không ngừng tuôn chảy.
TRÒ CHUYỆN TRIẾT HỌC. Tác giả Bùi Văn Nam Sơn, Nxb Tri Thức, Công ty sách Thời Đại, 2012. Dịch giả Bùi Văn Nam Sơn là một cái tên không hề xa lạ đối với những ai đam mê triết học Tây Phương.
HỒ CHÍ MINH VỚI VĂN NGHỆ SĨ, VĂN NGHỆ SĨ VỚI HỒ CHÍ MINH (tập 4). Nhà xuất bản Hội Nhà văn - in 8.000 cuốn - khổ 16x 24cm - tháng 5 năm 2012.
@ Thúc Tề (Lãng Tử) sinh ngày 17.10.1916 tại Huế. “Là nhà thơ lãng mạn với Trăng mơ, là nhà văn hiện thực với Nợ văn, cuối cùng chết cái chết của một liệt sĩ cách mạng, cuộc đời Thúc Tề tuy éo le ly kỳ, nhưng vẫn phù hợp với phép biện chứng của vận động lịch sử và diễn biến tâm hồn con người” (Hoài Anh).
NGUYỄN THỊ HOÀNG
Thoáng qua thì tưởng chừng như chẳng có gì nơi một khoảng không nhẹ tênh và trong suốt. Lời tiếng ấy, nao lòng ấy, bày tỏ ấy thì đâu đâu cũng có từ nguồn thương mỗi người mẹ gửi cho con...
THIỆN TÂM
Trong những ngày hội sách của Tp Hồ Chí Minh tháng tư vừa qua, giữa hàng ngàn cuốn sách, trong đó có những cuốn được giới thiệu rầm rộ từ nhiều tuần trước, có vẻ các cuốn sách “Đáp lời sông núi” bị chìm khuất dù chúng được giới thiệu trang trọng bằng một cái pa nô lớn trước gian hàng của NXB Trẻ.
@ Nhà xuất bản Đại Học Huế vừa cấp giấy phép “mở hàng” cho một tập thơ của hội viên Hội Nhà văn TT. Huế: Giấc mơ buổi sáng của Nguyễn Lãm Thắng.
@ Thi ca mùa ngái ngủ của Lê Huỳnh Lâm có thể ví như một giấc thiền bị bủa vây bởi lớp ngôn từ vừa nhập hồn trở lại - hân hoan nhảy múa trên điêu tàn thời cuộc. Đến Mật ngôn (Nxb Văn học, 2012) mỗi ai muốn tiếp cảm phải tự lần tìm password từ những giấc mơ hoang phí.
@ Từ những suy tưởng rỗng rểnh ứ họng Lê Hưng Tiến đã liếc dao vào ý tưởng hòng ngụy tạo hoang giấc và cấu xé ngữ nghĩa.
@ Tập truyện ngắn và thơ Cái chết không có con người (175 trang, khổ 13x19, Nxb Văn học, 2012) có được là nhờ sự tâm huyết chung tay góp sức của bè bạn văn nghệ Huế thực hiện. Tác giả của nó - Hoàng Trọng Định là nhân vật chính của vở bi hài kịch do chính anh dàn dựng.
@ Là một người hoạt động âm nhạc có bề dày nhiều năm trong kháng chiến, cho đến nay đã “hơn 40 năm bổng trầm”, nhạc sĩ Mai Xuân Hòa vừa ra mắt Tuyển tập ca khúc - ca cảnh Nỗi đợi chờ.
@ Sau cuốn Có một con đường mòn trên biển Đông của nhà văn Nguyên Ngọc (năm 2000), đến Hải trình bí mật của những con tàu không số (2006) của Hồ Sĩ Thành hay Lịch sử đường Hồ Chí Minh trên biển, và gần đây nhất là bộ phim do nhà văn Đình Kính chuyển thể từ tiểu thuyết Sóng chìm của mình; thì nay con đường huyền thoại này càng thêm phần sáng rõ với Cổ tích tàu không số của nhà thơ Ngô Minh Nxb Hội Nhà văn, tháng 11 năm 2011.
@ Có lẽ tranh Đinh Cường thuộc diện đứng đầu top sử dụng làm bìa sách, tạp chí. Thêm một bức tranh nữa của họa sĩ tài danh này vừa được trình bày bìa cho Đặc san văn học Quán văn, số đầu tiên ra mắt vào tháng mười năm nay do nhà văn Nguyên Minh làm Chủ biên (Nxb Thanh niên).